Bông Sen Vàng - Sơn Tùng
LỜI BÀN
Khi trân trọng ghi những lời của Hồ Chủ Tịch lên trang đầu quyển BÔNG SEN VÀNG, Sơn Tùng ắt hẳn muốn nhìn Bác từ “cái gốc” của sự hình thành nhân cách đã làm đẹp Tổ Quốc và Thời Đại. Chắc hẳn tác giả cũng muốn cố gắng nhìn Bác từ cái “căn bản” như Các Mác từng quan niệm rằng: “ Căn bản, có nghĩa là xem xét sự vật từ gốc rễ. Mà gốc rễ, đối với còn người, chính là bản thân con người”.
Trong những gì từng là gốc rễ của một tâm hồn như Bác, phải chăng đã có cả cố đô Huế với thời niên thiếu của Người? Giờ đây ai nấy đều khẳng định một chân lý là: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Vậy thì trong hiện thực đã rất hiển nhiên ấy đối với thế giới ngày nay, Huế với những năm đèn sách của Bác đã tham dự như thế nào vào sự sinh thành của bậc vĩ nhân, và chính Người đã làm rạng rỡ những gì trên một chương lịch sử đầy biến động của Huế?
Câu hỏi đó ắt phải đặt ra với các giới sử học và văn học, khi chúng ta muốn lĩnh hội Bác từ căn bản của Người. Và có lẽ Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng và Hội Văn học nghệ thuật Đà Nẵng khi xuất bản quyển sách này cũng nhằm mở đầu cho sự giải đáp, lúc vấn đề đã tới độ chín muồi, để nêu lên trước bạn đọc: với cuốn Bông Sen Vàng được phát hành từ lòng thành kính vào dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sanh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quyển tiểu thuyết gồm hai tập nhằm lần lượt tái hiện lần lượt những năm đèn sách của Bác bên sông Hương núi Ngự (tập 1: 1895 – 1900, tập 2: 1905 – 1909), rất có thể lại gây nên một chấn động trong những suy tư về CON NGƯỜI VÀ CON ĐƯỜNG CỦA VỊ LÃNH TỤ đã trở thành vĩnh cửu.
Tiếp theo cuốn BÚP SEN XANH do Nhà xuất bản Kim Đồng đã phát hành năm 1982 tại Thủ đô Hà Nội, tái bản năm 1984 và đang tái bản lần thứ ba, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, BÔNG SEN VÀNG là tác phẩm thứ hai của Sơn Tùng viết về thời niên thiếu của vị anh hùng dân tộc trong thời đại cách mạng. Đọc cả hai tác phẩm đều nhằm tái hiện tuổi thơ của Bác muôn vàn kính yêu, ta càng ngẫm nghĩ về một điều gửi gắm trong chuyện “Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” do nhà văn Trần Dân Tiên ghi tả. Bây giờ, ngót chục năm trước đây giữa rừng sâu Việt Bắc, tác giả cuốn tiểu sử đầu tiên về vị lãnh tụ đã nhắc nhủ rằng : “Quyển truyện này còn thiếu nhiều đoạn, trong đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, những đoạn ấy phải chăng là rất quan trọng…?”.
Quả vậy, BÔNG SEN VÀNG ra đời tiếp BÚP SEN XANH càng khiến ta liên tưởng tới lời ký thác khi và tự hỏi: Trong cả cuộc đời lớn lao của Bác trải khắp năm châu bốn biển qua ngót một thế kỷ còn bao điều ẩn khuất, phải chăng thời niên thiếu của Người cũng là một giai đoạn quan trọng mà văn học đang cần sớm phát hiện? Với hai tác phẩm nối tiếp đó của một nhà văn hậu thế hiện trú trong ngõ Văn chương của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, có lẽ bạn đọc càng ngẫm nghĩ nhiều hơn về lời nhắn nhủ xưa kia của nhà văn tiền bối Trần Dân Tiên từ rừng sâu Việt Bắc. Con đường hình thành nhân cách của Bác Hồ từ tuổi nhi đồng đến tuổi thành niên trên các dải Lam Hồng và Hương Ngự, rõ ràng đang đề xuất với chúng ta nhiều suy tư về một phương thức giáo dục những con người đất nước ngày nay.
Thời niên thiếu của Bác vốn là cả một chương lịch sử đã khởi thuỷ hình thành những giá trị nhân cách từng phát triển hết sức nhất quán suốt cuộc đời rạng rỡ các Hồ Chủ Tịch. Vậy phải chăng chính những giá trị nhân cách đã khởi thuỷ hình thành từ tuổi thơ của Bác, lại nêu lên một tấm gương cổ vũ trực tiếp nhất đối với tất cả các thế hệ thiếu nhi ngày nay của đất nước? Soi vào cái cốt cách của con người “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công, Vô Tư” của vị lãnh tụ lão thành trong sự nghiệp cách mạng, nhiều tuổi thơ giờ đây có thể còn tưởng rằng đó là những phẩm cách quá cao cả và khó noi theo! Thế nhưng, tính chuyên cần và tiết kiệm, biết liêm sỉ và chính trực, trọng công bằng và vị tha, tức những gì từng được giáo dục trong nếp sống gia đình của cậu bé Nguyễn Sinh Côn hoặc của thư sinh Nguyễn Tất Thành, chắc chắn không thể nào lại bị các thiếu niên nước ta coi là quá đỗi xa vời và rất khó noi gương. BÔNG SEN VÀNG quả đã khẳng định sâu sắc thêm một quy luật từng hé mở trong BÚP SEN XANH: Nhân cách hình thành từ tuổi thơ của học sinh Nguyễn Sinh Côn lại chính là “CÁI GỐC”, cái khởi thuỷ, “CÁI NỀN”, cái nhân bản trong cốt cách thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cốt cách rạng rỡ của các bậc lão thành ắt chỉ có thể bắt đầu vun trồng ở tuổi thiếu nhi. Từ điều dạy bảo xa xưa của cụ Nguyễn Sinh Sắc – “giáo tử anh hài” – ta càng hiểu thêm lời dặn của Bác hôm nay: “Phải uốn cây từ lúc cây non…”. Tiếp theo BÚP SEN XANH, phép “trồng cây” và “trồng người” ấy quả được đặc tả trong BÔNG SEN VÀNG qua thời đèn sách các Bác tại kinh đô Huế.
Khi đề xướng một yêu cầu thực hiện đối với những tác phẩm đi vào đề tài lịch sử. Các Mác từng nhấn mạnh rất rành mạch với các nhà văn của chúng ta giờ đây rằng: “Làm sống lại những người đã khuất…là nhằm cổ vũ các cuộc đấu tranh mới…là để khuếch trương một nhiệm vụ cần hoàn thành… là nhằm tìm ra cho hôm nay cái tinh thần của cuộc cách mạng, chứ không phải để lại triệu về cái bóng ma của quá khứ”. Vậy thì giờ đây tái hiện trên văn chương thời niên thiếu trong lịch sử của Hồ Chủ tịch, làm sống lại bao con người và sự biến quá khứ từng tạo nên buổi đầu hình thành nhân cách của Bác, các nhà văn đang cần phát hiện những gì cho cuộc cách mạng hôm nay trên đất nước ta? Nếu không là nhằm khuếch trương trước hết cái tinh thần của một nền GIA GIÁO và một nền GIA PHONG, mang Chủ nghĩa xã hội vẫn đặt ra trong cuộc đấu tranh khẩn thiết vì sự đào luyện các thế hệ mới. Có đâu ngẫu nhiên khi phân tích về phát triển tiến hành nền giáo dục Cộng sản tại Liên Xô (cũ). Chủ tịch C-U-Tréc-nen-cô lại đã khẳng định một điều tổng kết ngay trong giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa xã hội là: Chính gia đình là khởi thủy tạo nên tính cách của con người, đã khắc họa vào con người những nguyên tắc đầu tiên của cuộc đời).
Với quyển BÚP SEN XANH của Nhà xuất bản Kim Đồng trước đây, tác giả đã phát họa đại thể cả quá trình thành nhân của Nguyễn Tất Thành. Tức là cả giai đoạn lập thân ấy của nhà yêu nước trẻ tuổi, từ Nghệ An vào Huế và Phan Thiết, cho đến khi rời cảng Sài Gòn ra đi với quyết tâm lập nghiệp. Qua quyển BÔNG SEN VÀNG xuất bản lần này, Sơn Tùng lại tập trung đặc tả sự hình thành nhân cách của Bác Hồ thời trẻ, trong những năm đèn sách tại gia ở kinh đô Huế với hai quãng đời rất quan trọng nhất của Bác hồi niên thiếu.
Chính ở một nơi hội tụ tinh hoa của Trung kỳ vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 này, nền GIA GIÁO và GIA PHONG của dòng họ Nguyễn Sinh Sắc đã nhận nhiều ảnh hưởng quyết định nhất của bối cảnh lịch sử và do đó càng có nhiều tác động quyết định nhất đối với những bước đầu hình thành nhân cách của Bác. Chính tại kinh đô Huế, giữa một thời kỳ sôi động với những biến động gay gắt và những nhân vật nổi bật của đất nước, Nguyễn Tất Thành đã được GIA ĐÌNH và DÂN TỘC rèn cặp nhiều nhất về các đạo lí con người căn bản nhất đứng trước vận mệnh của nhân dân: Để trước hết phải thành nhân và lập thân đã, để trước hết trở nên một cây trúc chính trực và một cây tùng kiên cường, đủ sức chống chọi với nghịch cảnh của Tổ quốc và Thời đại.
Sau này Hồ Chủ tịch có làm thơ rằng: “Suốt đời chính trực và kiên cường”. Đó là hình tượng của một “cây gậy” trên đường đời, nhưng cũng là điều gửi gắm của bậc “trượng phu” ngay thẳng và vững chắc. Nhân cách ấy của vị lãnh tụ chẳng đã hình thành ngay từ kinh đô Huế trong những năm đèn sách tại gia, trong bầu không khí của nền gia giáo và nền gia phong mang truyền thống ngàn xưa của dân tộc hay sao? Ở vào thời điểm của thế kỷ thứ 19 sang đầu thế kỷ 20, khi nước ta chưa kịp có điều kiện tiếp nhận ánh sáng của học thuyết Cộng sản, thì bấy giờ chỉ có luồng ánh sáng tỏa ra từ nền gia giáo và nền gia phong kia của một dòng họ chân nho, mới chiếu rọi được con đường Thành nhân và Lập thân của Nguyễn Tất Thành đương định hình của Nhân cách.
Chính tại kinh đô Huế giữa những năm khốc liệt ấy của vận mệnh đất nước và con người, Nguyễn Tất Thành đã được gia đình và dân tộc rèn cặp vững chắc trong hình tượng một trượng phu phương Đông: “Ở thời ở nơi quang rộng của nhân dân, đứng thì đứng chỗ ngay thẳng của nhân dân, đi thì đi con đường lớn của nhân dân…”. Và cùng thật rõ ràng là chính từ bài học tại gia đó trong thời niên thiếu của Bác, từ điều gia giáo không thể nào phai mờ của một gia đình nhà nho thanh cao, mà sau này Hồ Chủ tịch khẳng định với thời đại một tấm gương nhân cách là: “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”.
Hiển nhiên, trong những năm đèn sách tại gia ở kinh đô Huế, nhân cách của Bác không thể hình thành từ một nền giáo dục nào khác, ngoài nên giáo dục của những nhà nho thanh cao. Bác từng tự giới thiệu tại Liên Xô năm 1923 rằng: “ Tôi xuất thân từ một nhà nho Việt Nam”. Và Bác cũng nhận mạnh một cách chân thật là: “Bên nước tôi những gia đình như thế thanh niên đều theo học đạo Khổng…”. Rồi trong bản tự khai lý lịch của mình tại Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản năm 1935 Bác lại ghi rất chính xác là “thành phần gia đình: nhà nho”… Quả như quyển BÔNG SEN VÀNG đã tái hiện một cách trung thực, trong nền gia giáo gia đình nhà nho Nguyễn Sinh Sắc tại kinh đô Huế, mục tiêu trước tiên là nhằm giáo dục con cái biết tu nhân để thành nhân. Ông cử từng dạy cho các con: “Ngọc bất trác bất thành khí”… Bác Hồ lại căn dặn chúng ta: “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”
Thế nhưng, trong phép tu thân ấy của nho gia, ông cử cũng đã trước hết chú trọng dạy cho các con thấu lẽ chính tâm và chính ngôn của những trượng phu. Chẳng thế, khi thấy anh Khiêm khen là: “Em Côn nó khôn lắm, nói cách chi nghe đều xuôi cả”, cậu Côn liền đáp: “Anh Khiêm khen em như rứa em buồn lắm. Em có khi nào có việc ngược thành xuôi, xuôi thành ngược đâu?”. Nghe vậy ông cử Sắc lại nhắc nhủ cậu Khiêm” “Con là anh, nói với em phải nói lời chính ngôn con ạ…”. Trong nền gia giáo ấy của những trượng phu, ông cử Nguyễn Sinh Sắc cũng không ngớt nhấn mạnh với các con là phải biết liêm sỉ mới thấy quốc sỉ: “Các con ra đời vào thời buổi đất nước nhiễu nhương của thế kỷ này. Nhưng chính các con lại là người gánh trọng trách của thế kỷ sau”. Quả nhiên, từ điều liêm sỉ và quốc sỉ đó do cha mình dạy bảo, cháu Nguyễn Sinh Côn đã có thể được chú Phan Bội Châu gửi gắm tâm sự tâm đắc trong những vần xướng đối:
Sinh vi nô lệ sinh do tử,
Tử hữu tinh thàn tử nhược sinh!
Với hào khí ấy của các trượng phu trong những năm cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, gia đình nhà nho Việt Nam gồm những con người “đều theo học đạo Khổng!” lại đã gây nên cho thực dân Pháp một nỗi khủng khiếp to lớn ngay khi chủ nghĩa Cộng sản chưa sang tới bán đảo Đông Dương. Cuối năm 1923, khi cụ Nguyễn Sinh Huy (tức ông cử Sắc) vừa đột nhiên trở ra Phan Thiết và “đi lại với các cựu can án trong vụ nổ bom tại Hà Nội”, mười năm trước đó, viên công sứ Pháp đã khẩn cấp điện hỏi tòa Khâm sứ Trung Kỳ về lại lịch của “Phó bảng cựu tri huyện bị cách chức do con gái can tội thông đồng với những kẻ xuất dương sang Nhật”. Trong bức điện trả lời ngày hôm sau, Chánh mật thám Trung Kỳ là Xô-nhi xác nhận rằng: “Những tin tức về Nguyễn Sinh Huy A.3760 đều đúng”. Và tên trùm mật thám Pháp còn nhấn mạnh thêm về ba người con của gia đình nhà nho Việt Nam từng gây nỗi khiếp sợ cho bọn chúng:
“Nguyễn Tất Thành A.3607 nổi tiếng ở Pháp với tên gọi Nguyễn Ái Quốc.
Nguyễn Tất Đạt A.3781 bị kết án năm 1914 tại Nghệ An 9 năm tù về tội tham gia hội kín phản nghịch; đã bị giam ở Nha Trang và được ân xá năm 1920, sau đó bị quản thúc tại vùng chung quanh Huế.
Nguyễn Thị Thanh A.1166, còn gọi là Bạch Liên, tức Sen Trắng, bị kết án hồi tháng giêng năm 1918 tại Nghệ An 7 năm tù về tội tòng phạm trong vụ lấy trộm súng ở sở Giám binh, đã bị giam tại Quảng Ngãi, rồi được tha và bị quản thúc tại Huế”…
Chỉ trong vòng 10 năm, bao biến động lớn lao diễn ra dồn dập với một gia đình nhà nho mà không gì có thể làm lẫn lộn với đám hủ nho hoặc ngụy nho, tức là đám Hán nho và Tống nho mà cả Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng đều đã từng lên án ngay tại cố đô Huế. Năm 1910 cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy bị cách chức tri huyện tại Bình Khê tỉnh Bình Định, rồi lận đận đi về phía Nam và có vài năm đã “làm cu li đồn điền cao su Lộc Ninh” như bức điện của Chánh mật thám Trung Kỳ từng nêu rõ. Năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành cũng hòa thân làm thủy thủ Nguyễn Văn Ba lênh đênh trên bốn biển. Rồi tiếp đến những năm 1914 và 1918, anh và chị đều lần lượt bị tù đầy vì những hoạt động chống thực dân Pháp. Một gia đình còn lại bốn cha con sống cách biệt nhau, thì cả bốn cha con đều đã bị Sở Mật thám Đông Dương ghi tên vào sổ đen với ký hiệu mật.
Vào những năm bão táp mịt mùng đó của Tổ quốc hồi đầu thế kỷ 20, đều gì đã gắn bó keo sơn đến thế cả gia đình nhà nho ấy với nhau, trước bao thách thức khốc liệt của vận mệnh dân tộc ngả nghiêng? – nếu không phải trước hết là một nền gia giáo và một nền gia phong đã tạo nên những cây trúc chính trực và những cây tùng kiên cường ngay từ các dải Lam Hồng và Hương Ngự? Qua quyển BÔNG SEN VÀNG, điều đó càng sáng tỏ, với những trang sách ghi tả thời đèn sách tại gia ở kinh đô Huế của cả gia đình nhà nho Nguyễn Sinh Sắc?
Nếu không xuất phát từ những điều thụ giáo của thư sinh Nguyễn Tất Thành trên các trang sách Đại học ông cử Sắc truyền đạt tại kinh đô Huế năm xưa, thì khó lòng hiểu được chân thật vì sao sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tóm tắt hạt nhân của đạo học trong mười một chữ là: “Đại học chi đạo tại minh đức, tại thân dân”. Cũng như không thể hiểu được chân thật vì sao Bác đã giải thích rằng: “Minh đức là chính tâm. Thân dân là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lân trên hết. Nói một cách khác, tức là “tiên thiên hạn chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” .
Thiên hạ vẫn có nghĩa là nhân dân bao gồm mọi con người dưới bầu trời, Phan Bội Châu từng giải thích rằng chữ dân trong nguyên thủy vốn đồng nghĩa với chữ nhân và bởi vậy dân cũng tức là con người. Cho nên nhân dân cũng như thân dân đều có nghĩa là yêu thương con người hoặc yêu thương loài người, đều có nghĩa đặt lợi ích của nhân dân tức con người lên trên hết, như Mạnh Tử từng nhấn mạnh: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân chi khinh” và Bác Hồ đã dịch rõ ràng: “Lợi ích của nhân dân là trước hết, thứa đến là lợi ích quốc gia, còn lợi ích của vua thì không đáng kể”. Lời giảng ấy của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc tại Pari năm 1921, dĩ nhiên vẫn dựa vào bài học của cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Côn ở Huế xưa kia, tức là vẫn dựa vào điều giảng dạy của ông cử nhân Nguyễn Sinh Sắc về đạo Ái Quốc, trong một buổi lên lớp tại gia bên cửa thành Đông Ba hồi cuối thế kỷ 19.
Đối với cậu thiếu niên Nguyễn Sinh Côn và các bạn đồng môn lúc bấy giờ, đó là bài học lót dạ về lòng yêu nước trong truyền thống ngàn xưa của dân tộc – bài học minh tâm về một đạo Ái Quốc vẫn đòi hỏi con người phải sáng lẽ minh đức ở chỗ thân dân. Đó cũng chính là bài học vỡ lòng về đạo nhân sinh đã soi mối quan hệ giữa Quốc và Dân, như ông cử từng giảng rằng “Quốc dĩ dân lập” và “Dân dĩ quốc tồn” theo một quan niệm của nho gia là “Quốc dĩ dân vi bản”. Nước lấy dân làm gốc, nên Mạnh Tử sắp xếp: Lợi ích của nhân dân là trước hết, thứ đến là lợi ích của quốc gia, chứ không phải là lợi ích của nhà vua. Chính đây là một quan điểm đã phân rõ các bậc túc nho với đám hủ nho, đã phân biệt các bậc chân nho với đám ngụy nho, là những kẻ khoác áo nho đển làm theo pháp gia, chỉ một mực đặt lợi ích của vua lên hàng đầu mà chà đạp mọi lợi ích của nhân dân. Thật rõ ràng là vẫn từ điều nhập tâm ấy trong bài học minh tâm của cậu thiếu niên tại kinh đô Huế năm xưa, nên sau này Bác Hồ lại mở đầu bài viết mười hai điều răn của Người bằng câu “Nước lấy dân làm gốc” để căn dặn chúng ta rằng:
“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”
“Cái gốc” hoặc “cái nền” đối với vị lãnh tụ, như ta đã ghi trên trang đầu quyển BÔNG SEN VÀNG vẫn trước sau nhất quán ở chỗ “thân dân” tức “nhân dân” với ý nghĩa là yêu thương mọi con người dưới bầu trời. Theo quan điểm của nho gia thì đạo “nhân dân” cũng tức là đạo “ái nhân”, nên khi dạy bảo các con về điều “lập chí” trong việc “lập thân”, ông cử đã nhấn mạnh là phải đặt cái chí vào dân, bởi lẽ dân cũng là cái gốc của nền của nhân, cũng như của mọi điều lễ, nghĩa, hiếu, trung, trí, tín… trong đạo làm người của nhà nho.
Cho nên Ái Quốc thì ưu dân, trung với nước thì hiếu với dân, chứ không phải như đám ngụy nho và ngu trung chỉ nhắm mắt tôn thờ lũ hôn quân và bạo chúa. Vẫn từ điều thụ giáo ấy về bài Ái Quốc trong buổi đèn sách tại gia ở kinh đô Huế, sau này Hồ Chủ Tịch đã
cảm tác giữa rừng sâu Việt Bắc khi đề tặng bạn cũ:
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Thêm nữa, đối với cậu thiếu niên, “sớm khôn” ở kinh đô Huế năm xưa, bài “Ái Quốc” không chỉ nhập tâm từ trang sách và lời giảng của ông cử. Cậu Côn cùng các anh lại còn được nghe cha mình dạy bảo về “thời Quốc nạn” và “ngày Quốc hận”: Ngày kinh đô thất thủ đã để lại bài vè “thất thủ kinh đô” đầy xót xa u uất, ‘ngày hai mươi ba tháng năm âm lịch nghi ngút khói hương khắp kinh thành!”. Ngay từ hôm ấy ra cửa Đông Ba đi đón mẹ về, Nguyễn Sinh Côn đã ngơ ngác nhìn những mâm cỗ cúng hai bên đường, ở các ngã ba ngã tư, với nào bỏng nếp, cháo hoa, báy gạo, đĩa muối, tiền giấy, vàng vó… và cả những chiếc nón đi qua đều cúi đầu tưởng vọng. Và cũng ngay từ hôm ấy, nghe cha giảng về “thời Quốc nạn” với “ngày Quốc hận”, cậu thiếu niên của kinh đô Huế đã nhập tâm những danh tiết của vua Hàm Nghi, của quan Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết, của quan Chưởng vệ nghĩa quân Trần Xuân Soạn, của quan Tham biện Sơn Phòng Hoàng Hoa Thám, của quan Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật,… Trong tâm hồn của Nguyễn Sinh Côn giữa dải Hương Ngự đau buồn bấy giờ, tấm gương hy sinh của Tôn Thất Thiệp mới mười ba tuổi đi phò minh quân đã hóa thành con chim bay về kinh đô kêu “Thiệp!Thiệp!Thiệp!” trên ngọn cây xanh.
Trong các đạo lý của dân tộc ngàn xưa mà Bác từng thụ giáo trong những năm đèn sách tại gia ở Huế, có khi ta còn phải ngược lên tới cả bài học của Nguyễn Tất Thành về “Kỷ nguyên Hồng Bàng”. Tức là về cái thuở “Vua Hùng dân Lạc” và cội nguồn “Con Rồng cháu Tiên” trong nền đại đồng nguyên thủy như sử sách đã ghi chép rằng: “Buổi ấy, vua tôi cùng cày, không đắp bờ chia ranh giới, không phân lấn ai, mọi người gần gũi yêu thương nhau, nền nếp đó kéo dài mấy ngàn năm vẫn y nguyên như một”
Đây cũng chính là mấy nghìn năm trong buổi sơ khai của nhân loại mà Ăng-ghen từng gọi là “đỉnh cao của sự thuần khiết”, khi nêu bật “bản hiến chương tuyệt vời” của những xã hội nguyên thủy “không binh lính, không cảnh sát và mật thám, không quý tộc, không hoàng đế và tổng đốc, không thái thú và pháp quan, không nhà tù, không kiện cáo…”. Vậy thì ta cần hiểu như thế nào về hai chữ “vua tôi”, tức hai chữ “quân thần” trong đoạn sử thuộc Kỷ nguyên Hồng Bàng, khi thư sinh Nguyễn Tất Thành được ông cử giảng dạy về cội nguồn đất nước?
Các Mác từng giải thích đầy đủ rằng “vua” ở những thời xa xưa ấy bên Tây phương cũng vậy, tuy vẫn được gọi là “roa” (roi) hoặc “rếch” (rex) như dưới chế độ phong kiến sau này, nhưng lại chỉ là các thủ lĩnh bộ tộc chứ không phải hoàng đế quân chủ. Quả như Phan Bội Châu đã vạch rõ về chữ “quân” ở những thuở xa xưa nhất của phương Đông, vốn nguyên nghĩa là thủ lĩnh, hoặc lãnh tụ của nhân dân, như vua Hùng ở Việt Nam và vua Nghêu tại Trung Quốc chẳng hạn cũng có ý nghĩa ban đầu ấy của hai chữ “vua tôi” từ các thuở vua Hùng dân Lạc trong bài học tại gia của thư sinh Nguyễn Tất Thành ở kinh đô Huế, nên sau này là sang Pari nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mới diễn tả sâu xa qua Lời than vãn của bà Trưng Trắc hiện hồn về mà nhắc bảo Khải Định rằng:
“Theo tập tục ngàn năm của nước Nam ta xưa cũ, thì hoàng đế chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân. Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời mà tiếng nói dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là trời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy. Giở sử sách đất nước ra mà xem…”
Truyền thống dân tộc đã được Bác ghi nhận như thế đó, theo quan điểm nho gia về “thiên mệnh” và “dân tâm”. Bác ắt hiểu rõ hơn ai hết rằng “lệnh trời” chỉ là một khái niệm siêu hình trong triết học cổ đại. Thế nhưng trước tầm mắt chắt tinh bỏ thô của Bác, phải chăng “lòng dân” lại là một quan điểm cơ bản của các dòng tư tưởng nhân đạo ở phương Đông từ xa xưa? Khi Bác nhắc nhở: “Giở sử đất nước ra mà xem…” thì chắc chắn điều chủ yếu mà Người nhằm truyền đạt cho chúng ta là “lòng dân” chứ không phải là “lệnh trời”.
Những trang sử gần nhất của nước nhà cũng vẫn khẳng định lời cảnh tỉnh của bà Trưng Trắc. Vua Đồng Khánh, vua Khải Định, vua Bảo Đại sẽ đời đời bị tổ tiên từ bỏ và nhân dân ruồng rẫy, vì đã đi ngược lại lòng dân vốn được coi là lớn lao như ý trời. Còn vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân ắt sẽ mãi mãi được đất nước gắn bó và sử sách ghi nhớ vì đã nghe theo tiếng nói của nhân dân và xứng với tổ tiên! Chính do đạo lý ngàn xưa ấy của Tổ Quốc, mà ngay trong buổi đầu vừa sang tới Liên Xô, Bác Hồ đã nhấn mạnh với nhà thơ Mandensotan rằng: “Đồng chí cũng nên nói cả về vua Duy Tân. Ở bên nước chúng tôi vừa có một cuộc nổi dậy nữa. Lần này do ông vua trẻ tuổi đó dấy lên chống lại việc bắt nông dân chúng tôi ném vào lò sát sinh của Pháp”
Nguyễn Sinh Côn đã tận tai nghe cha mình nói về cuộc nổi dậy của vua Hàm Nghi, Nguyễn Tất Thành lại tận mắt nhìn thấy Vua Thành Thái bị bắt khi chuẩn bị nổi dậy. Rồi Nguyễn Ái Quốc vẫn tiếp tục nhận được tin tức nóng bỏng về cuộc nổi dậy tiếp theo của vua Duy Tân. Phải chăng cũng do nghiền ngẫm từ những trang lịch sử xa xưa nhất của Tổ Quốc đến các hiện thực gần gũi ấy của dân tộc, nên tới khi về lãnh đạo cuộc cách mạng đang nhóm lên ở trong nước, Bác Hồ đã khẳng định trên báo Thanh niên in bí mật tại Quảng Châu một quan điểm của Việt Nam là “Một ông vua cũng có thể suy nghĩ và biết đau xót trước cảnh thống khổ chưa từng thấy của nhân dân mình…”
Cùng với vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, Vua Duy Tân đều đọc sách nho, hiển nhiên còn có cả những ông quan và những nhà nho cũng biết suy nghĩ và biết đau xót trước cảnh thống khổ của nhân dân. Thế nhưng bên cạnh đó cũng có bao ông vua cũng đều đọc sách Nho mà vẫn nhắm mắt trước cảnh thống khổ của nhân dân, với những ông quan và những nhà nho chỉ một mực ngu trung để tôn thờ đạo bá vương, đặt lợi ích đáng khinh của nhà vua lên trên hết! Phải chăng đường ranh giới ấy trong lịch sử của dân tộc, cũng chính là đường ranh giới giữa chân nho và ngụy nho! Giữa một bên thật sự là nho gia lấy nhân dân làm gốc, còn một bên chỉ là pháp gia khoác áo nhà nho, đặt bá vương lên đầu và làm theo bá đạo để chống lại nhân dân một cách nham hiểm và tàn bạo nhất.
Qua thời niên thiếu từ Nguyễn Sinh Côn đến Nguyễn Tất Thành được tái hiện sống động trong BÔNG SEN VÀNG với bức tranh hiện thực của kinh đô Huế xa xưa, ta càng thấy rõ từ đâu gia đình Nguyễn Sinh Sắc đã khởi thủy tạo nên nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong những năm đèn sách tại gia ấy. Chỉ từ sự nhận diện đó đối với những dòng dõi chân nho mới có thể hiểu đúng vì sao mãi tới ngày nay Bác vẫn quả quyết rằng: “Cụ Phan Đình Phùng là một học giả nổi tiếng và một vị quan to. Nhưng tên cụ đã trở thành tượng trưng cho lòng yêu nước…”
Trong nhân cách khởi thủy ở tuổi thơ của Bác, trước hết đã có dấu ấn gia đình thanh cao của các nhà nho Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan. Song trước hết cũng đã có cái dấu ấn dân tộc hào hùng với những khí phách oanh liệt của Hàm Nghi, Thành Thái, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, cùng dòng họ Tôn Thất Đính, Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp, với bao gương mặt nhân nghĩa khác nữa của kinh đô Huế mà Nguyễn Sinh Côn từng tận mắt, tận tai được biết. Dĩ nhiên, ngay buổi đầu, nhân cách của cậu thiếu niên miền Trung bấy giờ chỉ có thể hình thành từ những tinh hoa đó của gia đình và dân tộc chứ đâu phải từ Trường Quốc Học của thực dân Pháp.
Ngoài những buổi đèn sách tại gia với cha và những lúc giảng dạy “ngoại khóa” của mẹ, cậu Côn cùng anh Khiêm còn học hỏi được bao điều lớn lao qua các lần hầu trà ông cử và bằng hữu, mội khi các bậc bề trên ấy lại “tọa vị thu tâm” để “luận đàm thế sự” ngay dưới mái nhà tranh bên cửa thành Đông Ba. Đúng là cậu Côn đã vừa học vừa hỏi, bởi không chỉ được phép “dự thính” mà còn được phép “chất vấn” các bậc cha chú về cả những điều từng làm cho quan Thượng thư Đào Tấn phải sững sờ mong sao lớp con cháu sẽ nguyên lượng cho thế hệ của mình: “Nước mất mà không cứu được nước!” Rồi lại đã làm cho họa sĩ Lê Văn vừa mới ở Pháp về cũng phải sững sờ mà bình phẩm một cách nghệ sĩ rằng: “Muốn hiểu lòng dạ người con gái thì hãy ngắm miệng cô ta lúc cười. Muốn biết người con trai có chí lớn hay không thì hãy nhìn vào đôi mắt anh ta lúc gặp sự bất ngờ. Cháu Côn có đôi mắt ấy!”
Nguyễn Sinh Côn không chỉ tận mắt nhìn thấy một Đào Tấn Thượng thư, một Đào Tấn học giả, mà còn được tận tai nghe cha mình kể chuyện với chú Phan Bội Châu về một Đào Tấn thi nhân, một Đào Tấn tác giả tuồng có đường bút trượng phu không ngớt nêu cao những tấm gương chính nghĩa và không hề tránh né mọi lũ gian tà. Cũng như cậu Thành không chỉ được tận tai nghe chú Phan Bội Châu cùng cha mình đàm đạo, mà còn được tận mắt nhìn cha mình tiếp chuyện nhiều bạn đồng tâm đồng chí của nhà lãnh đạo sự nghiệp cứu nước bấy giờ. Chính tại kinh đô Huế, cậu thiếu niên đương buổi lập chí và lập thân đã có cơ hội gặp mặt cả từ Đặng Thái Thân, Đặng Tử Kính, Đặng Nguyên Cẩn, cho đến Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trọng Lội,…những sĩ phu yêu nước đã từng sáng lập trường Dục Thanh ở Phan Thiết và dấy lên phong trào quần chúng nổi dậy chống thuế ở Trung kỳ năm 1908.
Như vậy đấy, kinh đô Huế đã thật sự là Trường Quốc Học của Nguyễn Tất Thành trong buổi đầu lập chí và lập thân ấy. Chính kinh đô Huế mới thật sự là nơi mà cậu thiếu niên đã thụ giáo nhiều nhất của gia đình và dân tộc. Tuy thế, ngược hẳn mưu đồ của bọn đi nô dịch, Trường Quốc Học của thực dân Pháp lại đã có một tác động nghịch lý đối với sự phát triển nhân cách của anh thư sinh đến độ thanh niên trên đất Đế đô. Trong câu chuyện cởi mở với nhà thơ Mandesotam tại Mạc Tư Khoa cuối năm 1923, Bác Hồ từng kể lại điều nghịch lý hết sức quan trọng đó giữa buổi thanh xuân của mình ở kinh đô Huế.
“Lần đầu tiên tôi đã nghe những từ Pháp: Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái. Đối với chúng tôi bấy giờ thì người da trắng nào cũng đều là người Pháp cả. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau các từ ấy. Những trong các trường bản xứ, bọn Pháp dạy như vẹt. Người ta bưng bít, không cho chúng tôi đọc sách báo. Chẳng những chúng tôi không được phép đọc các nhà văn mới, mà thậm chí còn bị cấm đọc cả Rút-xô và Mông-te-ski-ơ. Phải làm sao đây? Tôi quyết định đi ra nước ngoài…Tôi lần mò đến tận bờ biển và thế là tôi đã ra đi. Năm ấy tôi hai mươi mốt tuổi…”
Bọn cầm quyền thực dân đã cấm đọc Rút-xô và Mông-te-ski-ơ, nhưng các thầy giáo thực dân lại thường khoe khoang về nền văn minh Pháp! Tuy vậy, không đợi tới khi vào cầm ngòi bút sắt trong trường Quốc Học Huế, cậu thiếu niên làng Sen mới muốn được làm quen với nền văn minh phương Tây. “Trạc mười ba tuổi” Nguyễn Tất Thành đã nghe thấy những từ mới lạ ấy: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Trong các buổi hầu trà ông cử và họa sĩ Lê Văn giữa kinh đô Huế, cậu thư sinh cũng đã nghe thấy nhà tri thức Tây du kể lại với cha mình bao điều mới lạ trên dải đất “quốc thù” kia! Và trong các “kỳ quan” có ở nước Pháp, vị giáo sư vừa am hiểu nho học vừa am hiểu tân học còn nói về Công xã Bale và bản tuyên ngôn của Đẳng Cộng Sản mà ông đã mang máng biết đến. Cũng vào thời gian này tại kinh đô Huế, cậu Thành lại được đọc quyển Sùng bái gia nhân của Phân Bội Châu từ Nhật gửi về, trong đó nhà yêu nước đặc biệt nêu bật Hoa Thịnh Đốn là một danh nhân nước Mỹ.
Bác Hồ rời Phan Thiết để ra đi từ Sài Gòn hồi hai mươi mốt tuổi. Thế nhưng quyết định ra đi ấy hình thành từ trước tuổi mười tám của anh thanh niên lớn lên trên đất Phú Xuân còn vang bóng Quang Trung. Và hơn nữa, quyết định hết sức độc đáo đó giữa một thời kỳ đang rất mờ mịt cả vận mệnh đất nước và con người, ắt chỉ có thể hình thành ở một nhân cách đã được khẳng định trong sự vun trồng của gia đình và dân tộc: Ở một cây trúc chính trực và một cây tùng kiên cường, ở một tấm lòng Ái Quốc và một dòng máu ưu dân, ở một tuổi thơ đã được nâng dắt cả về sự lập chí và lập thân. Trong lớp học tại gia bên cửa thành Đông Ba, khi giảng giải về một lời bàn của trò Chu Văn An, “mới lạ hơn ý tứ của những người lớp trước”, ông cử Sắc từng khuyến khích một lời bàn của trò Nguyễn Sinh Côn “mới lạ hơn ý tứ của thầy Chu Văn An!”
Trên từng bước lập chí và lập thân trong những năm đèn sách ở Huế, sự lập chí và lập ngôn theo hướng thành ý và chính ngôn ấy của nhà nho hẳn có quan hệ tới quyết định của Bác ra đi bốn biển năm châu để tìm đường cứu nước, cứu dân. Lúc đó Bác chưa hay biết gì về phép biện chứng duy vật của học thuyết Cộng sản. Vậy thì quyết định hết sức độc đáo kia phải chăng chỉ có thể bắt nguồn từ lẽ “tùy thời biến dịch” trong tư tưởng nho gia mà cậu Nguyễn Tất Thành đã thụ giáo tại kinh đô Huế qua sự dạy dỗ của gia đình và dân tộc? Đối với các nhà nho xưa kia ở nước ta, chữ “Thời” vốn có nghĩa là thời vạn hoặc thời đại, “ở Nguyễn Trãi chữ Thời đã nổi bật lên thành một sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua toàn bộ hệ thống tư tưởng của bậc vĩ nhân”.
Phan Bội Châu từng tóm rằng tinh lý của Dịch học là ở chỗ biết “biến dịch cho đúng với thời” và cũng cho phép “tùy thời biến dịch” ấy, bậc danh nho đã bác bỏ tất cả những ai “định làm nô lệ cho người đời xưa hay định làm nô lệ cho người đời nay”
Hiển nhiên cũng do được giáo dục là không làm nô lệ cho người đời xưa và không làm nô lệ cho người đời nay, nên một khi nắm bắt được sự biến dịch của thời thế qua các tín hiệu của thời đại, Nguyễn Tất Thành đã dám vượt hơn các nhà yêu Nước “vào bậc cha chú” của mình để ứng xử một cách khác thường trước thời vận của đất nước.
Phải chờ tới ngày vào Phan Thiết dạy học tại trường Dục Thanh, thầy giáo trẻ tuổi mới có thời cơ chín muồi tiếp nhận thêm đầy đủ những tín hiệu của thời đại, để dám hóa thân đi làm thủy thủ lênh đênh trên bốn bể và từ đó dấn mình vào đội ngũ quốc tế của giai cấp vô sản! Thế nhưng CON NGƯỜI và CON ĐƯỜNG của Bác thì lại bắt đầu hình thành ngay từ buổi cậu thư sinh đã “quyết định đi ra nước ngoài” và “lần mò đến tận biển....”
Thêm nữa, phải chờ tới khi tiếp nhận được học thuyết của Mác và Lê-Nin trong giai cấp công nhân và phong trào Cộng sản thì Bác Hồ mới trở thành lãnh tụ cách mạng mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam giữa thời đại ngày nay. Thế nhưng CON NGƯỜI và CON ĐƯỜNG của Bác đã bắt đầu hình thành từ buổi lập thân và lập chí tại kinh đô Huế, lại chính là khởi điểm tất yếu dẫn Bác đến với học thuyết Cộng sản và trở nên một nhân cách “làm rạng rỡ Dân tộc ta”.
Tuy nhiên, trong các thiếu niên khác ở kinh đô Huế và khắp cõi Việt Nam bấy giờ cũng từng được gia đình và dân tộc rèn cặp để lập thân và lập chí, vì sao lại chỉ có mỗi Nguyễn Tất Thành đã trở nên một “thánh nhân” như Phan Bội Châu đã từng suy tôn tại cố đô Huế. Khi bậc anh hùng như Phan Bội Châu đã từng được người đời coi là đấng xả thân vì nghĩa lớn đã nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc một “thánh nhân” thì danh hiệu ấy ắt có nghĩa là một “bậc thầy của hàng trăm đời sau”
Vậy phải chăng điều phát hiện rất sớm đó của Phan Bội Châu về một “thánh nhân” còn ẩn khuất trên năm châu bốn bể, lại cũng bắt nguồn từ điều phát hiện xa xưa của Đào Tấn và Lê Văn về một “Nguyễn Sinh Côn thần đồng” tại kinh đô Huế? Bàn về những danh nhân thế giới trong các thế kỷ cận đại, Ăng-ghen từng nhấn mạnh rằng: “Người ta khó lòng tìm thấy một nhân vật quan trọng nào mà lại không từng có các hành trình xa xôi, lại không nói được bốn năm thứ tiếng và không xuất sắc trong nhiều lĩnh vực chuyên môn”. Tất cả những nhân tố ấy đều đã biểu hiện ở Bác Hồ: Sự từng trải bao la của con người, những cuộc chu du khắp các lục địa và đại dương, nền học vấn uyên bác của một bậc trí giả am tường bốn năm sinh ngữ và xuất sắc trên nhiều lĩnh vực…Thế nhưng, để có thể đạt được các thành tựu lớn lao đó của sự phát triển con người, chắc hẳn Bác cũng mang nhiều thiên tư và bẩn sắc từ trong tuổi thơ của bậc vĩ nhân.
Tái hiện sống động thời niên thiếu của Bác trong những năm tháng vĩ đại ấy ở kinh đô Huế, BÔNG SEN VÀNGlàm sáng tỏ tinh hoa mà quá khứ đã để lại cho hôm nay và ngày mai. Các giá trị hiện thực trong cuốn tiểu thuyết lịch sử đó khiến ta lại nghĩ tới một tác phẩm văn học của Ban-dắc, mà sau khi đọc xong Ăng-ghen từng nhìn nhận là “đã học tập được nhiều hơn trong tất cả các sách của những sử gia…”. Như vậy đấy, một tác phẩm văn học cũng có khả năng phát hiện nhiều hiện thực lịch sử mà chính các công trình sử học vẫn chưa nêu rõ, chắc hẳn Sơn Tùng cũng muốn phấn đấu theo phương hướng đó. Mặc dầu do yêu cầu của nghệ thuật, nhà viết tiểu thuyết ắt phải hư cấu, ngay cả trong trường hợp sáng tác về đề tài lịch sử.
Trong cuốn NHỮNG MẪU CHUYỆN VỀ ĐỜI HOẠT ĐỘNG CỦA HỒ CHỦ TỊCH là một tác phẩm quan trọng nhằm khái lược lịch sử của vị lãnh tụ cách mạng, chính nhà căn Trần Dân Tiên cũng đã vận dụng sự hư cấu từ đầu chí cuối. Sự hư cấu ấy đã nổi bật ngay từ ở mấy trang mở đầu của cuốn sử ký hết sức chân thật này, khi có một nhà văn lấy tên là Trần Dân Tiên đến gặp Hồ Chủ tịch để xin tài liệu viết tiểu sử của Người và khi tác giả rút ra sự thất bại của một phương pháp sai lầm là đã trực tiếp hỏi chuyện Bác! Xuyên suốt cuốn tiểu sử ấy mà mà cả thế giới giờ đây đều nhìn nhận sự xác thực về mặt lịch sử và sự điêu luyện về mặt nghệ thuật, còn có thể dẫn ra biết bao chứng minh khác nữa của việc hư cấu vừa rất độc đáo, vừa rất thành công của nhà văn tiền bối. Và mặc dầu đã hư cấu như vậy từ đầu đến cuối tác phẩm, nhà văn Trần Dân Tiên vẫn quả quyết với cả thế giới rằng: “ Đây là một tiểu sử trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không bày dặt.”
Rõ ràng hư cấu không có nghĩa là bày đặt và thêu dệt sai sự thật mà chính là để nêu bật sự thật với những gì cốt lõi của các tư liệu. Vấn đề cần xem xét là sự hư cấu có dựa trên những tư liệu đã xác thực hay chưa, và có nêu đúng được phần cốt lõi của các nhân vật lịch sử và sự kiện hay không? Trong trường hợp sáng tác với chủ đề lịch sử về Bác Hồ, nhà văn Trần Dân Tiên cũng đã đặc biệt chỉ dẫn một “cách làm tập thể”, một phương pháp cần nhiều công phu nhưng đảm bảo sự chân thật: Hỏi những người trước kia, trong một thời gian bào đó, đã trực tiếp hoặc gián tiếp biết Hồ Chủ tịch, không cứ người đó là Việt Nam hay ngoại quốc, để lấy tài liệu viết “tiểu sử” của Bác.”
Lần đò từ Nghệ An ra Hà Nội, rồi vào Huế và Phan Thiết, cho đến cả Sài Gòn trước và sau giải phóng, đẻ tìm tòi các nhân chứng trực tiếp hoặc gián tiếp biết thời niên thiếu của Bác, quả là Sơn Tùng đã hướng theo điều căn dặn của nhà văn tiền bối. Bằng “cách làm tập thể” đó, tác giả của BÔNG SEN VÀNG đã gom góp được nhiều tấm lòng của cả nước đối với Hồ Chủ tịch, kể cả những vật chứng gồm các bản viết và ảnh chụp có giá trị gốc. Vui sướng biết bao khi ta lại đọc thấy những tư liệu chân thật đến thế về thời niên thiếu tuyệt vời của Bác! Đáng chú ý nhất là trong các bậc lão thành đầy tin cậy mà tác giả đã kịp thời gặp mặt, còn có những nhân chứng của thế kỷ không khi nào vắng bóng trong BÔNG SEN VÀNG: Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Tất Đạt, Lê Thị Hạnh, Công Tôn Nữ Huệ Minh – những con người lịch sử vẫn sống động với Nguyễn Tất Thành và cố đô Huế.
Gấp lại cuốn sách giữa những âm vang của những chương sử về một dải đất thân yêu, ta bỗng man mác hồi tưởng tới bức họa đồ trong Hương giang thu phiếm của Phan Bội Châu mang tâm tư ưu ái ngỗn ngang! Bấy giờ, vào thời điểm cuối năm 1929, thực dân Pháp đã bắt đầu đàn áp một cách khốc liệt các tổ chức cách mạng trên khắp nước ta. Trước tình cảnh đau thương đó của dân tộc nhà yêu nước lão thành càng xót xa với “chín khúc ủ ê tằm héo ruột, năm canh réo rắc cuốc kêu hồn”. Và chính trên con đò lơ lửng giữa dòng sông buồn lặng. Ông già Bến Ngự đã bồn chồn gạn hỏi như trong các ác mộng: “Hương ơi, e phải mày không?”
Thế nhưng, vị thiên sứ lại khẳng định với đời: “Sông nọ hóa ra mình có!” – Vâng, Phan Bội Châu vẫn có mãi với đế đô Huế, với Nguyễn Tất Thành và bao thế hệ đã lớn lên bên bờ HƯơng Giang. Khi bức “Thiên nhiên đồ họa” đã tỏ ra “lòng trong tựa kính”, thì qua tấm gương chân thật ấy trời đất và con người xứ Huế, ông già Bến Ngự vẫn nhìn thấy những gì trong sạch nhất của một thời đại cái thực và cái hư đang bị xáo trộn ghê gớm.
Câu phú “lòng trong tựa kính” của danh sĩ Phan Bội Châu vẫn có mãi bên vần thơ “Lòng sông gương sáng bụi không mờ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh! Cốt cách thanh cao ấy của các thế hệ dân tộc từng hội tụ trên dải đất Phú Xuân vẫn còn mãi qua bao buổi bi kịch của hùng ca của sông Hương núi Ngự. Từ buổi thiếu nhi đến tuổi thành niên, như một BÔNG SEN VÀNG tới độ tỏa hương kết hạt, chính là Nguyễn Tất Thành đã mang cốt cách thanh cao ấy dấn bước vào cuộc đấu tranh “xả thân” từ trên đường phố Huế.
Khi Bác là một tượng đài cao ngất giữa non sông đất nước, thì tuổi thơ trong sách của Người chính là cái nền. Khi Bác là một ngọn cờ vời vợi giữa bầu trời bao la, thì tuổi thơ trong sách của Người chính là cái gốc. Khi Hồ Chủ tịch là một biển cả mênh mông của tình yêu con người, thì chính vì thời niên thiếu của Bác đã hội tụ biết bao tinh hoa của dân tộc.
PHẦN 1
Tiếng súng Thành chao đưa, màn đêm buông gấp gáp.
Cửa Thành khép kín.
Thành Nội, tấm áo giáp Đại Nội chìm vào đếm tối.
Khiêm đang lom khom trên phản ngựa cho Côn cưỡi, nghe tiếng súng Thành, hai anh em ngừng cuộc chơi. Khiêm nói:
- Học thuộc bài sớm để rồi xin cha kể cho nghe tích ngày Quốc hận, em ạ.
Côn giao hẹn:
- Anh hoặc em học thuộc bài trước, ta cùng đợi nhau nghe cha kể, anh nhá.
- Anh chưa kể lần nào thuộc bài trước em cả.
- Thì em đợi anh. Khuya mấy em cũng đợi mà.
- Đợi anh hay em ngủ lăn ra giường, đánh thức mỏi cả miệng.
- Em hẹn với anh nhá, hễ thấy em ngủ say gọi không dậy, anh cứ véo đau vô đùi em! Nhưng anh còn nhớ dạo nọ em học xong, lăn ra ngủ, chưa xếp sách lên kệ, chưa rửa mặt, rửa tay chân. Mẹ không cho anh làm thay; bắt gọi em dậy làm xong phần việc mới được ngủ. Anh lay mãi em vẫn không dậy, ừ ừ mấy tiếng lại ngủ khì. Anh cù vô nách em, cù nhẹ thôi. Vậy mà em cáu anh, tuôn ra một tràng chữ trách anh: “Đệ niên thượng trĩ. Đệ hữu bất tri giả, huynh tất tường vị. Giáo đệ, huynh khởi vong chi hồ?” (Tuổi em còn nhỏ, có điều gì chưa biết, anh dạy em, sao anh lại quên điều ấy?). Anh liền bị cha quở trách về tội không khuyên bảo em, lại trêu chọc em.
- Lần ấy em thưa lại ngay với cha, lỗi ở em và em đã xin lỗi anh cơ mà.
Dọn dẹp xong việc bếp núc, chị cử Sắc ngồi vào khung cửi dệt. Tay chị đưa thoi thoăn thoắt. Chị nhắc hai con:
- Cha các con sắp về đó. Các con học bài đi. Chuyện chi mà ồn lên rứa?
- Chúng con đang ôn bài, mẹ ạ - Côn nháy mắt với anh.
- Mẹ đã vào khung dệt rồi. Anh em mình học bài thôi.
Hai anh em học chung một đèn. Côn lấy que tăm khơi hai bấc thành hai ngọn đèn trong đĩa dầu lạc. Khiêm hai tay bưng cằm tựa lên bàn, học nhẩm từng chữ. Côn thì viết ra giấy nháp, xướng lên nho nhỏ để nghe từng chữ: Ái quốc, nghĩa là yêu nước. Quốc dĩ dân lập, nghĩa là nước do dân lập nên. Dân dĩ quốc tồn, nghĩa là dân còn thì nước còn. Vô dân tắc quốc hà do thành, nghĩa là không có dân sao thành nước được? Vô quốc tắc dân hà sở tý nghĩa là, không có nước thì dân lấy đâu ra sự che chở? Cố quốc dân tất ái quốc, nghĩa là, dân trong một nước thì phải yêu nước…
Anh cử Sắc vào Quốc sử quán thăm một người bạn là anh Phó bảng Cao Xuân Tiếu và mượn ít sách. Anh đi từ sau bữa cơm chiều. Lúc về đến đầu sân, anh nhìn vào nhà, lòng bồi hồi, bởi lâu nay anh chăm việc đèn sách, lo việc thi cử và dạy học cho con mình, cho con em bạn bè nhờ, ít khi lưu ý về cuộc sống gia đình. Anh quá yên tâm vì đã có Hoàng Thị Loan, người vợ hiền đảm đang, gánh vác mọi việc lớn, việc nhỏ trong gia đình. Tối nay, đứng ngoài sân, anh nhận rõ niềm vui hạnh phúc của gia đình mình mà tưởng chừng truyện trong sách, mẹ dệt củi thâu canh, con đèn sách chuyên cần.
Anh bước vào nhà, giọng ấm áp:
- Mình nghỉ tay một tý chứ? Làm quần quật cả ngày, tận khuya vẫn không rời con thoi.
- Nhà về muộn rứa…Tôi cố dệt cho xong tấm đũi, bà hàng Tấm bên Dinh hẹn lấy cho phiên chợ này.
Khiêm, Côn thấy cha về, xếp sách, đặt vào kệ gọn gàng. Khiếm nháy mắt với em:
- Em nhắc lại với cha, xin cha kể chuyện ngày Quốc hận nhé.
- Anh thưa với cha hơn, chứ anh
- Em….
Thấy cha vào, Khiêm thôi không nói với em nữa. Cả hai anh em ríu rít chào cha. Anh Sắc ân cần:
- Các con đã học thuộc bài chưa?
- Dạ…đã, chúng con….chúng con thuộc cả rồi ạ.
- Khiêm thuộc đọc thật làu chứ?
- Thưa cha, bài ni con thuộc kỹ hơn mọi bài trước đây ạ
- Vậy thì con tấn tới lên rồi. Là anh con phải cố gắng học giỏi, làm gương sáng cho em.
- Thưa cha, em Côn sáng dạ. Bà ngoại, mẹ đều nhủ: Bé Côn có cái bụng sáng hơn đèn. Con khó học kịp em Côn, cha ạ.
Anh Sắc cười hiền từ:
- Con tự xếp mình đứng đằng sau em về đường đèn sách à? Về miếng ăn, anh nhường em, em nhường anh. Đó là đức tính cao quý. Nhưng việc học phải cùng nhau đua tranh, cùng nhau tấn tới. Bẩm sinh thông minh, sáng láng mới chỉ là cái mầm, chưa phải cây ra hoa, kết trái. Cha đã từng nói với các con: Ngọc bất trắc bất thành khí (ngọc không mài dũa không thành của quý). Phải lập chí từ lúc tập cầm bút, tập cầm cày, tập cầm cưa, cầm đục, các con ạ.
Anh cử Sắc không gọi Khiêm đọc bài mà gọi Côn:
- Côn đọc bài: Ái quốc
Côn đứng gần án thư cha, hai tay vòng trước ngực, mắt nhìn vào ngọn đèn trên bàn, Côn đọc một mạch rành rọt từ câu mở đầu: “ Quốc dĩ dân lập”…. cho đến câu chót của bài thuộc lòng.
Anh hỏi kiểm tra ngay:
- Con giải nghĩa câu: “ Quốc giả, tái dân chi châu dã” đến “kỳ quốc tiểu hữu năng hãnh tồn giả”
Côn thấm lưỡi qua môi, giảng giải:
- Tổ quốc là con thuyền, dân ở trên con thuyền ấy. Điều lợi, điều hại của Tổ quốc chính là niềm vui, nổi lo của dân. Nếu như người nào cũng nghỉ đến lợi ích riêng mình, không lấy việc nước làm trọng, hoặc còn ra sức phá hoại thì còn gì là nước, là dân!
- Con về chỗ.
Anh cử Sắc lại kiểm tra Khiêm.
- Khiêm giải nghĩa câu: Phản Tổ quốc, do châu nhân tự huyệt kỳ châu dã
Khiêm nhìn lên mái nhà nói:
- Kẻ phản bội Tổ quốc khác chi người trong con thuyền lại tự đục thủng thuyền.
- Con về chổ.
Phút yên lặng. Tiếng cửi dệt của chị cử Sắc từ trong buồng vọng ra đều đều.
Anh Sắc nhìn hai con đầy tin tưởng:
- Các con ra đời vào thời buổi đất nước nhiễu nhương của thế kỷ này. Nhưng các con là người gánh trọng trách của thế kỷ sau. Chỉ còn ít năm nữa là sang thế kỷ hai mươi rồi. Cha mẹ sẽ cố gắng hết sức lo cho các con ăn học. Có ăn học mới hiểu biết, có hiểu biết mới có vốn để làm nên…
Anh đứng dậy, cho phép hai con:
- Hai anh em đi rửa mặt, rửa tay chân. Bài học tối nay cả anh em đều đáng khen.
Côn nhắc luôn với cha:
- Thưa cha, lúc chiều cha dặn học bài tốt thì cha sẽ kể cho nghe chuyện ngày Quốc hận ạ.
- Cha vẫn nhớ.
***
Chị cử Sắc khe khẽ đặt mình xuống giường. Bóng trăng nghiên như giải lụa vàng giang ngang cửa sổ. Qua ánh trăng trong, chị nhìn lờ mờ những cành cây nhún nhảy, bóng vờn trên sân vắng lặng. Sự vắng lặng dêm hè chốn kinh đô đã khơi gợi niềm nhớ quê…Hình ảnh người mẹ già, cụ Hoàng Xuân Đường, hình ảnh của con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh, cô em gái Hoàng Thị An cứ lởn vởn trước vừng trán chị, rồi xa dần, lẫn vào tiếng chồng đang kể chuyện cho hai con ở gian bên mà nhập vào tâm trí chị:
- …Tự Đức, một ông vua thuộc hàng nhiều chữ nhất của triều Nguyễn. Nhưng ông đã tự thú trong văn bia của ông ở Khiêm Lăng về tội để mất nước, các con ạ. Chính ông, dưới thời ông trị vì mà những ba lần làm văn bản bán nước. Lần đầu ký văn bản cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Tây dương vào năm Nhâm Tuất (1862). Năm Giáp Tuất (1874) lại làm giấy bàn toàn bộ Nam Kỳ. Năm Quý Mùi (1883) làm giấy bán cả nước ta cho người Tây dương, năm ấy đức vua băng hà (chết). Năm Giáp Thân (1884) triều đình làm giấy bán tiếp, bán đoạn nước ta cho Tây dương gọi là hiệp ước Giáp Thân.
- Mẹ sinh chị Thanh năm đó, cha nhể? – Côn hỏi.
Khiêm rầy em:
- Cha đang nói chuyện hệ trọng, em lại đá gà cái chuyện mẹ sinh, nỏ ăn nhập chi hết cả.
- Ơ kìa, anh tưởng chỉ có việc vua Tự Dức chết là hệ trọng, còn việc mẹ ta sinh con không hệ trọng à?
- Em nói việc mẹ ta sinh thì hệ trọng cái nỗi chi nào?
Anh cử Sắc lặng thinh cho hai con tranh cãi để biết khiếu lập ngôn của con. Chị cử Sắc nằm trong giường thì bấm bụng cười. Côn nằm cạnh cha, níu lấy cánh tay cha, hỏi gặng:
- Anh Khiêm biểu việc mẹ sinh không có chi là hệ trọng, vua chết mới là việc hệ trọng. Riêng con thì vua chết là hết phận sự, chỉ còn lại tai tiếng hay danh thơm. Còn mẹ sinh ra các con để có thêm người, lớn lên lo việc nước, hay đi dạy học cho nhiều người biết chữ, hay cày ruộng có thêm nhiều thóc gạo, ai cũng được ăn no. Con nghĩ vậy, có phải không thưa cha?
Anh cử Sắc chưa trả lời cho Côn mà hỏi khiêm:
- Em nó giải bày lý lẽ vậy, con là anh con thấy sao?
- Da…dạ….thưa cha, em con nói rõ ra thì nghe cũng, cũng phải, cha ạ. Nhưng mà….
- Nhưng mà, gì nữa? – Anh cử Sắc hỏi Khiêm
- Nhưng mà em Côn nó khôn lắm. Nó nói cách chi nghe đều xuôi cả.
- Anh Khiêm khen em như rứa, em buồn lắm. Em có khi nào nói việc ngược thành xuôi, xuôi thành ngược đâu?
- Em Côn của con dầu có khôn đến mấy, vẫn là em của con. Con là anh, nói với em, phải nói lời chính gôn con ạ.
- Dạ con đã rõ, thưa cha.
Côn sốt ruột:
- Cha ơi, cha kể tiếp nước ta sau khi bị người Tây dương đô hộ, vua Tự Đức chết, rồi sao nữa cha?
- Khuya rồi con ạ. Các con sang giường ngủ. Hôm sau cha lại kể cho các con nghe
***
Cơn mưa mùa hạ vừa dứt, trời lại đầy sao. Trăng cuối tháng chưa mọc. Khiêm, Côn chép xong bài sớm. Chị cử Sắc xếp sách lại, rời khỏi án thư bước tới phản, nơi hai cha con đang ngồi đợi nghe cha kể tiếp chuyện ngày Quốc hận.
- Côn lấy cho cha cái gối xếp để cha tựa.
Côn sang giường cha bê đến bộ gối xếp ba tầng. Khiêm biết tính cha, lúc nói chuyện với bạn, lúc kể chuyện cho con nghe, lúc ngồi viết sách, thơ, phú thường có chén rượu nhấp một tí thấm giọng. Khiêm lặng lẽ đến bàn thờ lấy nậm rượu, một chén bạch định, rót đầy rượu, đặt bên cạnh cha.
- Các con ngồi vào.
Côn nũng cha:
- Con được nằm nghe chuyện thì nhớ hơn là ngồi, cha ạ.
- Ừ thì con nằm bên cha đây.
- Con nằm bên cha mà được gối đầu lên đùi cha thì nghe chuyện càng thích thú, chóng thuộc chuyện…
- Vẽ chuyện – Khiêm giễu em – Đầu em nặng làm mỏi đùi cha. Ích chi việc gối đùi?
- Cũng được, em nó thích vậy, cha chiều.
Côn nằm gối đầu lên đùi cha. Khiêm ngồi tựa lưng vào vách. Hai anh em mắt đầy mơ màng lắng cả tâm hồn ngây thơ vào dòng suối chuyện của cha.
- Vua Tự Đức không có con, ngài chọn một số cháu làm con nuôi, như Ưng Châu, Ưng Đăng, Ưng Kỷ. Trước ngày đức vua băng hà, tức ngày 14 tháng sáu năm Quí Mùi (1883) đức vua triệu tập các đại thần viện Cơ mật là Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường vào chầu. Tự Đức ký và trao di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, người con nuôi mà Tự Đức yêu mến nhất. Ưng Chân vốn là con thứ hai của Hồng Y. Ông Hồng Y là em trai thứ tư của Tự Đức, được Tự Đức phong làm Kiến Thụy công. Trước đó, năm Kỷ Tỵ (1869) vua công bố đạo dụ chọn Ưng Chân làm hoàng tử kế vị và phong làm Thụy quốc công Dục Đức. Năm ấy Dục Đức trong mười tám tuổi. Dục Đức là phụ hoàng của Đức vua Thành Thái ngày nay đó, các con ạ
- Sao không gọi là Thái Thượng Hoàng, thưa cha? – Khiêm hỏi:
- Vua cha truyền ngôi cho con thì lên chức Thái Thượng Hoàng. Ông vua nào không được truyền ngôi cho con lúc còn sống thì gọi là phụ hoàng, nghĩa là cha của vua. Tiếc thay vua Dục Đức ở ngôi chỉ có ba ngày, đây là ông vua ngắn đời nhất của lịch sử nước ta. Bởi lẻ, vua Tự Đức biết một số tính tình không hay của thái tử Dục Đức, và ghi rõ vào di chiếu truyền ngôi để Dục Đức biết mà sửa, các quan trọng thần biết mà giúp vua ngăn ngừa. Nhưng, Dục Đức e ngại đoạn văn đó trong di chiếu, ông mật bàn với các phụ chánh địa thần Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường sẽ không đọc đoạn văn nói lên nhược điểm của mình trước triều đình trong lễ đăng quan. Bề ngoài các phụ chánh đều ưng thuận, bên trong lập mưu hạ bệ Dục Đức bằng cái cớ này để đua em trai Tự Đức là Hồng Dật lên ngôi. Quả nhiên lúc vua Dục Đức cho đọc di chiếu của vua Tự Đức đã không cho đọc đoạn văn nhận xét một số tính tình không hay về ông. Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường…đứng lên phát giác. Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết hạ lệnh bắt ngay vua Dục Đức đi giam tạm ở viện Thái y, sau chuyển sang ngục Thừa Thiên và ông bị chết đói trong nhà ngục ngày mồng 6 tháng 9 năm Giáp Thân (24/10/1884). Vợ con ông cũng đều bị bắt giam. Ngay tại lễ thiết triều, quan Ngự sử Phan Đình Phùng đứng lên phản đối việc bắt vua Dục Đức hạ ngục. Ông cho rằng vua Dục Đức giấu triều đình về những điều viết xấu về mình trong di chiếu chưa đáng tội phải hạ ngục. Vua có làm điều gì sai thì giúp vua sửa mình. Việc bé chớ xé thành to mà gây ra thù oán, hiểm họa. Vận nước đang nghiêng ngả, giặc Tây dương đã nuốt gần hết giang sơn, kinh đô đang bị giặc uy hiếp mà trong triều, vua tôi không thuận thì khác nào tự mở cửa Thành mời giặc vô ngự trị! Các con ơi! Tiếng nói của quan ngự sử là tiếng nói can gián đừng làm điều có hại đến việc lớn mà ông cũng bị bắt ngay buổi thiết triều.
Ba cha con anh cử Sắc chìm giữa im lặng, chị cử Sắc chăng sợi lên khung cửi ở trong buồng vẫn chăm chú nghe tiếng chồng lúc to, lúc nhỏ, bổng trầm và thấm đau từng lời.
- Quan Phan Đình Phùng đã bị bắt ngày ấy sao hiện đang cầm quân đánh Tây ở quê ta, hả cha? – Côn hỏi.
- Ông bị bắt giam một thời gian ngắn. Sau được cho về quê vì ông đỗ đầu thi Đình, gọi là Đình Nguyên, Triều đình ai cũng kính nể ông. Một ông quan thanh liêm, nổi tiếng về khoa bảng. Ngày vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, ông hưởng ứng lập đội quân kháng chiến tại rừng núi quê ta, con ạ.
- Vua Hàm Nghi do quan Đình (Phan Đình Phùng) đưa lên ngôi, hở cha? – Khiêm sốt ruột hỏi.
- Để cha kể có đầu có đuôi, nghe tắt quãng đâu có hay hở anh.
- Đúng. Em con nói đúng. Để cha kể tỉ mỉ các con nghe. Các con cần biết để khi có đủ trí khôn, các con mới hiểu cha anh mộ cách rành rõ thì mới khen chê lịch sử được dúng đắn…. – Anh nhấp một tí rượu. Giọng anh buồn buồn – Hồng Dật lên ngôi, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa. Ông vua này vốn là người cầm đầu trong việc ký văn tự bán nước gọi là hiệp ước Quý Mùi (1883). Ông ở ngôi được bốn tháng thì bị Hội đồng phụ chánh đại thần bắt uống thuốc độc, chết vào ngày 30 tháng 10 năm Quý Mùi (29/11/1883). Ngay lúc đó, Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành bị ám sát. Hội đồng phụ chánh liền đưa Ưng Đăng lên ngôi, niên hiệu Kiến Phúc vào ngày mồng 3 tháng 11 năm Quý Mùi (2/12/1883). Cả một chuỗi thảm kịch diễn ra liên tiếp trong cung giữa lúc giặc Tây bao vây kinh đô chúng ta. Đấy, cha chỉ nói sơ qua vài việc để các con biết. Sau khi lấy gọn đất Nam Kỳ của chúng ta, chính phủ Tây dương cử luôn một tên quan đứng đầu ngành quan cai trị xứ Bắc Kỳ của chúng ta là Ác – măng (Harmand). Chúng nó cử một tên vừa ác độc, vừa dã man để giết tróc dân mình. Cha nghe nói, cái tên Ác – măng này đã từng là quan sừ thần Tây dương ở bên Xiêm, rồi sang Ai Lao, đến Sài Gòn, ra Hà Nội. Tên Ác – măng khéo che dấu âm mưu thâm độc nên mới được chức đại diện cho chính phủ Tây dương đến coi việc cai quản xứ Bắc Kỳ. Đúng vào giữa năm Quý Hợi ấy, Tây dương mở các trận đánh chiếm Bắc Kỳ, ép triều đình Huế phải ký hiệp ước công nhận quyền đô hộ của Pháp trên toàn cõi nước Nam ta. Vua Tàu để cho mười bảy doanh quân đổ bộ vào Bắc Kỳ của nước ta trước đó mấy tháng. Mười hai doanh quân do tướng Hoàng Quế Lan chiếm đóng các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh. Tướng Triệu Ốc chỉ huy năm doanh quân chiếm đóng Tuyên Quang vào một phần Thái Nguyên. Sau đó vua nhà Thanh lại phái thêm Từ Diên Húc đem tiếp quân sang Việt Nam ta để cùng với hai tên Hoàng Quế Lan và Triệu Ốc cố chiếm bằng được Bắc Kỳ của ta. Trong tình thế đất Bắc bị giày xéo như vậy thì tên Ác – măng đã được lệnh từ bên chính quốc: Cho mở mặt trận tấn công kinh đô Huế!
PHẦN 2
Đúng ngày mười tám tháng bảy năm Quý Mùi (20/8/1883) giặc Tây dương đánh chiếm cửa Thuận An, cửa ngỏ của kinh đô ta. Thủy quân của giặc từ ngoài Bắc Kỳ kéo vào, Nam Kỳ kéo ra, do bốn tên đại tá chỉ huy, hội lại ngoài biển Đà Nẵng. Tổng chỉ huy đám giặc cưới này vẫn là tên Ác – măng. Làm tai mắt cho Ác – măng đánh vào kinh đô lúc ấy là tên Tây dương đang đại diện cho chính phủ Pháp bên cạnh triều đình Huế.
- Tên cái thằng Tây do thám ấy là chi hở cha? – Côn hỏi
- Tên nó là…. – Anh cử Sắc lần lần mãi trong trí nhớ mới nhớ ra được – cha đã lập được phép sắp xếp tên húy của các vua, cha mẹ vua để dễ nhớ mà tránh “phạm húy” khi làm bài thi, nhưng bọn Tây Lang Sa này khó nhớ và nói cứ trẹo cả lưỡi.
Hai anh em Khiêm, Côn cười giòn. Chị cử Sắc trong nhà cũng bật cười.
- Tại vì cha các con ăn trầu lưỡi bị cứng đó nha.
- Có vậy đó, các con ạ. Cha ăn đôi miếng trầu, nên mỗi lần nhắc đến tên cái đám cướp nước mình đâm khó khăn. Tên cái thằng Tây dương do thám trong triều đình ta là Săm – pô (De Champeau). Lúc trời còn mờ mờ, chưa sáng tỏ, khoảng giờ Dần ngày 18 tháng 7 Quý Mùi (20/8/1883), giặc Tây dương bắn đại bác, bắn súng cối xay, đổ bộ quân lên chiếm các pháo đài, quân Tây dương chiếm gọn vùng cửa Thuận An. Trước tình hình ấy, triều đình ta vội cử thượng thư bộ Lại Nguyễn Thượng Hiệp xuống Thuận An thương thuyết với tên Ác – măng. Ông thượng thư bộ Lại không còn cách nào khác đành dẫn tên Ác – măng và tên Sampo về Huế, cầm theo tối hậu thư gửi triều đình: Nam triều phải rút quân hết ra khỏi 2 pháo đài cửa Thuận, tháo dỡ hết cả những công sự, những chướng ngại vật trên sông từ cửa Thuận đến kinh đô, phá hủy các kho vũ khí, nộp lại cho quân đội Pháp quốc hai chiếc tàu thủy do chính phủ Pháp tặng chính phủ Nam triều từ năm Giáp Tuất (1874). Còn nhục nhã nào hơn nỗi nhục nhã này! Từ vua đến hầu hết đám quan đại thần run sợ, cúi đầu nhận mọi điều khoản của tối hậu thư. Vậy rồi, ngày 23 tháng 7 (25/8/1883) triều đình liền lập một phái bộ gồm Trần Đình Túc, hiệp hiệu đại học sĩ, làm chánh sứ, Nguyễn Trọng Hiệp phó sứ đến đàm phán với tên Ác – măng. Trong cuộc đàm phán này, một đám quan đại thần cùng với nhà vua đã phạm tội đầu hàng, viết văn tự bán nước, lại còn cấu kết với giặc Tây dương chia quyền cai trị ba miền nước ta, cho quân Tây dương được tự do đóng quân trên cả toàn lãnh thổ để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân ta, và quy định: Từ địa giới tỉnh Bình Thuận vào tận đất mũi của Nam Kỳ là chế độ thuộc địa; từ địa giới bắc tỉnh Bình Thuận trở ra tới Lạng Sơn hưởng chế độ bảo hộ, thuộc Vương quốc An Nam. Có nghĩa là Trung kỳ, Bắc Kỳ phải chịu hai tầng cai trị: Chính phủ bảo hộ người Pháp và chính phủ Nam triều!
Anh cử Sắc thở dài nhấp một tí rượu. Bé Côn ngồi dậy, chống tay lên cằm, nhìn xoáy vào ngọn đèn. Khiêm cũng đổi lại tư thế ngồi.Trăng cuối tháng đã lên cao, ánh trăng như muôn đồng tiền vằng rắc xuống sân, Chị cử Sắc đã luồn sợi vào go xong và mắc lên khung cửi. Chị nhìn thấy ba cha con chung một ánh mắt buồn buồn. Nhưng bé Côn lộ rõ trong hai con mắt những tia sáng thao thức. Chị ra sân dọn dẹp, tai vẫn lắng vào nghe tiếng nói của chồng trong nhà:
- Quan thân thần Tôn Thất Thuyết là người cầm đầu những ông quan có tinh thần yêu nước quyết tâm kháng chiến, không cam chịu đầu hàng giặc Tây dương. Ông có quyền hành vào bậc nhất trong triều lúc ấy: Phụ chánh địa thần, Hội đồng viện Cơ mật, Hiệp biện đại học sĩ, Thượng thư bộ Binh kiêm quản văn ban phò mã. Ông đã lập ra Phấn Nghĩa quân, chuẩn bị cho thời cơ mở trận phản công. Ông đã giao cho tả quân đô thống Trần Xuân Soạn chỉ huy, huấn luyện đạo quân này. Ông cũng khôn khéo khuyên vua Ưng Đăng ra dụ các nơi lập đội hương binh từng làng, từng xã, từng tổng…để bảo vệ địa phương mình. Ông bí mật cho chuyển Nha sơn phòng Quảng Trị và phủ Cam Lộ ra Lăng Cầu làm “hành tại”, phòng khi kinh đô huế có biến. Ông cho dựng phòng tuyến chiến đấu. Dựng các nhà kiên cố và một số dinh thự, dựng am chứa vàng bạc, tiền dự trữ lâu dài…
Trong khi ông Tôn Thất Thuyết và những người có tâm huyết đang lo việc chuẩn bị thời cơ thu lại giang sơn gấm vóc thì đám quan triều hèn nhát lại lo chạy vạy kiếm chác chức tước, bổng lộc, củng cố cái ghế quan trường mục nát của mình. Chỉ một mực lấy lòng bà mẹ vua Tự Đức, tức Hoàng thái hậu Từ Dũ mà triều đình đúc sách vàng, ấn vàng tiến bà. Cuốn sách nặng tới 58 lạng, ấn nặng hơn 86 lạng.
- Không lo đúc súng đạn đánh giặc Tây lại lo đúc ấn vàng, sách vàng để được cái chi? Thật lạ, cha nhể? – Côn nói.
Khiêm tiếp luôn:
- Để có thêm oai quyền cai trị dân đó, em ơi!
- Đúng, các con nghĩ rất hợp với ý cha. Chính giữa lúc đó nước nhà rơi vào tay giặc
Tây dương hoàn toàn. Giặc Tây dương bắt tay với giặc Thanh. Chúng đã họp với nhau tại thành Thiên Tân, gần Bắc Kinh của nước Tàu. Bọn quỷ trắng đấm mõm cho bọn vua Tàu những gì không rõ, thì mới có được cái điều: Tất cả quân đội vua Thanh phải cho rút ra khỏi đất Bắc Kỳ của An Nam, còn nhà Thanh phải tôn trộng những văn tự cam kết giữa nước Pháp và triều đình nước Nam. Và, nước Pháp sẽ tôn trọng vùng biên giới phái Nam của Trung Hoa giáp với Bắc Kỳ của nước An Nam.
Ông lại thở dài, nhấp một chút rượu:
- Các con phải nhớ kỹ cái thuở Quốc nạn, đất nước chúng ta bị xâu xé như rứa đó.
Chị cử Sắc từ ngoài sân đi vào, sẽ sàng nói với chồng:
- Trăng lên cao rồi, nhà đi nghỉ, cho các con được ngủ. Thức khuya sáng mai dậy chúng nó mệt mỏi, học chẳng vào đó.
- Con không buồn ngủ đâu mẹ ạ. – Côn nói to để mẹ nhận mình không buồn ngủ.
Khiêm nói tiếp với em:
- Đoạn ở đoạn hồi hộp mẹ ơi…..
- Mẹ các con nhắc rất phải, cha cho các con đi ngủ. Cha cũng cần nghỉ. Hôm sau cha sẽ kể tiếp cho các con nghe mà.
Khiêm, Côn lên giường nằm, nhưng vẫn còn thao thức về những điều cha vừa kể.
Mấy hôm sau anh cử Sắc mới kể tiếp được. Nhưng Khiêm lại không được nghe. Vì người bạn thân của anh cử Sắc lâu ngày đến thăm; hôm bạn trở về lại đúng vào ngày anh Sắc chủ trì cuộc bình văn ở Quốc Tử Giám, không đi tiễn bạn được, anh phải cho con trai trưởng đi hầu tráp tiễn bạn. Hai hôm sau Khiêm mới từ nhà bạn của cha trở về thành Nội.
Côn ở nhà được nghe cha kể tiếp, và Côn cũng được cha giao việc: “Nghe những điều cha kể, con phải thuật lại cho anh Khiêm của con. Con nói theo cách của con. Miễn là những chi tiết diễn biến của câu chuyện mà cha sắp xếp khi kể cho con nghe”…Anh cử Sắc biết sự sáng dạ, sức nhớ lâu và khiếu kể chuyện của Côn.
Từ hồi lên năm tuổi ở với bà ngoại Côn được bà kể chuyện cổ tích cho nghe lúc sáng tối, sáng hôm sau bé Côn kể lại cho đám trẻ hàng xóm nghe chẳng những mạch lạc như bà mà còn thêm thắt chi tiết hợp lý, có duyên. Anh nghiệm thấy: Thầy dạy cho học trò làm thơ, làm phú, làm câu đối đùng niêm luật. Nhưng thơ hay là tự thân học trò, không một người thầy nào có thể dạy nổi. Đã từng có học trò mới mười tuổi làm được một số bài thơ hay mà thầy học là cử nhân, tiến sĩ không làm nổi.
Quan niệm như vậy, anh càng chú ý rèn cho Côn phát triển thiên tư.
Hôm sau khi bé Côn kể lại cho Khiêm nghe, anh cử Sắc vờ uống rượu đã ngủ say để bé Côn kể được tự nhiên. Chị cử Sắc ngồi dệt vải như thường lệ nhưng tai vẫn lắng nghe bé Côn kể chuyện với anh trai mình.
Côn nói:
- Anh ơi, em nhớ được bao nhiêu, em kể bấy nhiêu. Anh nghe mà thấy có chổ nào không rõ, anh hỏi cha, anh nhé!
- Em nỏ phải lo!
- Bữa trước anh em mình nghe cha kể đến hồi giặc Tây dương sang Tàu ngoặc nhau với triều đình nhà Thanh, mua bán với nhau về đất Bắc Kỳ của ta. Giặc Tây dương giành được phần hơn tại cuộc mua bán ma quỷ đó. Thằng quan Tây dương đang ở Tàu liền gửi ngay “đại hỏa tốc” (điện tín) về cho tên trung tướng Tây dương, tên nó là Mi – ô (Millôt) đứng đầu ngạch cai trị Bắc Kỳ là: trong khoảng từ hai mươi đến bốn mươi ngày tự do tấn công chiếm tất cả các tỉnh giáp với vùng biên ải Trung Quốc.
- Răng em lại nhớ được cả tên thằng tướng giặc Tây dương đứng đầu ngạch cai trị Bắc Kỳ?
- Em nge cha nói đến tên thằng tây, em liền ngẫm lại so tên nó với các tiếng ta thường dùng, anh ạ. Ví dụ: cha nói Mi – ô, em nghĩ ngay “mi mắt”, “ô che đầu”. Vậy là em nhớ tên nó ngon ơ thôi.
- Em kể tiếp đi.
- Bọn giặc Tây dương vừa cho quân đi đánh chiếm các nơi, vừa bắt triều đình nước Nam ta đầu hàng chúng thêm nữa. Chúng bắt triều đình phải lệnh cho các quan Nam triều ở các tỉnh hợp lực với các quan binh Tây đàn áp dân mình nổi dậy chống Tây. Ở tỉnh nào cũng có người mình nổi lên, do các quan nghè, quan cử cầm đầu. Cũng có những ông quan Nam triều không tuân lệnh triều đình đã cùng với những người tai mắt trong địa phương tập hợp dân chúng đánh lại giặc Tây. Nhưng triều đình lại lập đoàn sứ bộ để ký văn bản bán nước ta hoàn toàn cho chính phủ Pháp. Văn tự ký ngay tại kinh đô này, do quan phụ chánh đại thần kiêm thượng thư bộ Lại Nguyễn Văn Tường, thượng thư bộ Hộ Phạm Thận Duật, thượng thư bộ Công Tôn Thất Phan. Đại diện cho Pháp là tên Pa – tờ - nốt (Fulo Patenotre). Cha nói rằng: Đây là bản văn khai tử nền độc lập, dân chủ của nước Nam hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước! Bản văn bản bán nước này ký vào ngày 13 tháng năm, Giáp Thân, Kiến Phúc đệ nhất niên (6/6/1884). Chúng chia lại địa giới ba miền của nước ta: Từ phần nam tỉnh Bình Thuận trở vào là xứ Nam Kỳ thuộc địa, từ bắc Bình Thuận ra địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình là xứ Trung Kỳ, từ bắc Ninh Bình ra biên giới Viêt Nam – Trung Quốc là xứ Bắc Kỳ. Hai kỳ này là chế độ “bảo hộ” của nước Pháp, thuộc vương quốc An Nam. Làm xong văn bản bán nước, triều đình lại phải đem đến tào sứ Pháp cái ấn bạc của vua Thanh trao cho vua nước Nam từ trước, đập bẹp và đúc thành bạc nén ngay trước mặt bọn quan Tây dương để lấy lòng tin! Quan thần Tồn Thất Thuyết không thể chịu nhục hơn được nữa với quyền bính trong tay, ông ép triều đình đưa Ưng Lịch mới 13 tuổi lên ngôi vua, thay vua Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi (Ưng Lịch) là con của Hồng cai, mà Hồng cai là em thứ sáu của vua Tự Đức. Hồng Cai được Tự Đức phong là Kiến quốc công.
Ưng Lịch lên ngôi vua, nhưng chờ hết năm Giáp Thân, qua năm Ất Dậu (1885) mới lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Vua lên ngôi rồi, thần dân đã một lòng hướng về đức vua nhưng giặc Tây dương không muốn thừa nhận đức vua. Vì chúng biết vua còn ít tuổi mà Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết có uy quyền nhất là người cầm đầu phái không thuận với Tây, cương quyết kháng địch đến cùng. Chúng bắt triều đình ta phải tổ chức lại lễ đăng quang của vua, có bọn quan binh Tây vào dự lễ chứng kiến thì chúng mới công nhận. Quan thân thần không chịu điều kiện ấy. Tướng Mi – ô liền phái một tên quan năm đem sáu trăm quân có địa pháo bao vây kinh đô Huế, hạ tối hậu thư cho triều đình ta: Trong vòng mười hai giờ Tây (12 tiếng) phải tổ chức lễ đăng quang lại và phải có mặt các quan binh Tây đại diện chính phủ Pháp dự để công nhận. Trước tình cảnh: Chưa chuẩn bị xong lực lượng kháng địch thì tình thế đã lâm cảnh hiểm nghèo, quan thân thần về dinh ôm mặt, nước mắt đẫm bàn tay.
Phụ thân quan thân thần là Tôn Thất Đính khuyên: “Phải thực hiện khổ nhục kế. Bài học Câu Tiễn ngày xưa vẫn còn có ích cho ta ngày nay. Cùng tắc biến, nhưng phải biết chọn “thiên cơ địa hội” chứ không thể liều mạng để rồi thành danh trong thất bại. Nhạc phụ của con là ngài Nguyễn Thiện Thuật nói với cha lúc bái biệt trở về Bắc. “Nếu kinh đô có biến, tôi sẽ cùng với dân chúng ở quê nhà (Hưng Yên) chống giặc cứu nước”. Con tính cho kỹ, cha con ta đã thề nguyện: “Chết trung không sống nịnh. Mà chỉ trung với đức vua vì nước chứ không thể trung với vua chỉ làm vì!”.
Quan thân thần lạy tạ cha, rồi ông liền căn dặn hai con trai mình là Tôn Thất Đạm, mười tám tuổi, Tôn Thất Thiệp mười ba tuổi sửa soạn hành trang, khí giới, chờ có lệnh là theo cha lên đường. – Côn nhắc lại với anh: - Tôn Thất Thiệp chỉ mới có mười ba tuổi anh ạ. Ghê không! Vua Hàm Nghi cũng mười ba tuổi – Khiêm nhắc lại với em. Ừ nhể - Côn tâm đắc – Gánh vác việc nước đâu phải đợi ngày lớn tuổi, anh nhể? – Khiêm đáp ngay với em: Tuổi nhỏ mà chí lớn, như Trần Quốc Toản cha thường nhắc ấy.
Côn lại kể tiếp: Quan thân thần cũng dặn dò gia nhân lo liệu phòng khi có biến….Quan thân thần lệnh cho quan Trần Xuân Soạn tụ binh mã và cấp tốc cho quan quân ra Hà Tĩnh tăng cường việc xây dựng căn cứ Sơn phong Hương Khê để ứng phó khi kinh đô có biến.
Quan thân thần vào triều quyết định làm lễ đăng quang đúng giờ. Cha nói là: Bữa đó bọn giặc Tây dương kéo đến điện Thái Hòa những hai mươi lăm tên võ quan và một trăm sáu mươi thằng lính mũi lõ, mắt xanh tóc trắng. Tên cầm đầu phái bộ Pháp đọc một tờ văn kể lể công của người Pháp đã giúp Gia Long đánh thắng nhà Nguyễn Tây Sơn thì mới có nhà Nguyễn ngày nay. Nó tuyên bố Ưng Lịch là vua nước An Nam. Nó hứa sẽ dẹp hết các cuộc nổi loạn ở khắp nước và sẽ khai hóa nước An Nam thành một nước văn minh thịnh vượng……
Côn ngượng ngập….Khiêm đang muốn nghe tiếp, hồi hộp, hỏi em:
- Em bị quên một đoạn mô chắc?
- Không. Em không quên. Cha mới kể cho em nghe đến đoạn đó. Em đang lần nhớ lại coi có sót mất đoạn hệ trọng nào không.
Anh cử Sắc ngồi dậy nói với Côn:
- Cha nằm mà vẫn nghe con kể cho anh con nghe.
Côn ngập ngừng làm nũng với cha:
- Cha …Cha thức mà con ngỡ …Sợ quá. Biết vậy con không kể để anh Khiêm xin với cha thì con lại được nghe cha kể lại hai lần, con nhớ càng kỹ hơn.
- Con nhớ được những sự việc, những tên người, tên các địa phương và sắp xếp được thành từng phần, từng đoạn mạch lạc, cha nghe tốt rồi.
Chị cử Sắc trong khung cửi dệt bước ra, cười trước dàn:
- Mẹ đã nghe cha các con kể hôm nọ. Bữa nay mẹ nghe bé Côn kể lại gần như cha kể. Nhiều cái tên người Tàu, tên người ta, tên các tỉnh mãi ngoài Bắc Kỳ mẹ cũng được nghe mà nỏ nhớ, con lại nhớ khá đầy đủ. Cha các con nói một số tiếng mẹ nghe còn rất lạ, rất mới mà con cũng nhập tâm được. Mẹ khen cho con đó!
Khiêm giọng nũng nịu:
- Con bắt đền cha, mẹ đó. Cha mẹ sinh con mà chẳng sinh cái sáng láng thông minh cho con để con được như em Côn, nghe một nhớ hai ba?
Anh cử Săc vui vẻ:
- Con cũng sáng dạ, nhưng con hay lơ đãng, chưa thật chú tâm, bấm bụng vào việc mình học, mình làm. Tuổi của con là tuổi học. Đã qua tuổi bắt chước từng việc đơn giản. Nghe cho thấu, nhớ cho rõ. Chưa thấu chưa rõ thì hỏi người lớn, hỏi người xung quanh cho kỳ biết. Em Côn con sáng dạ hơn con thật. Nhưng điều hệ trọng là, em Côn còn sớm có óc tự lập ý, lập ngôn và mạnh dạn hỏi, mạnh dạn nói. Nhờ vậy mà tỏa hóa sự hiểu biết mau.
Thấy cha nhắc nhở anh, Côn lo anh buồn liền nằm xuống gối đầu vào đùi anh. Côn lại vòi cha:
- Cha ơi, cha kể tiếp cho anh em con nghe cha
- Các con đi nghỉ. Tối mai, tối mốt… cha, cha sẽ kể nốt cho các con.
Trăng nối trăng, anh cử Sắc lại nối tiếp câu chuyện kể cho các con trong những đêm kinh thành:
- Bọn Tây dương đã phải công nhận Ưng Lịch là Vua nước Nam, niên hiệu Hàm Nghi. Nhưng chúng vẫn chưa hết mối lo về quan thân thần Tôn Thất Thuyết và một số người trung thành trong triều đang tìm mọi cách chống lại chúng. Bọn do thám Tây dương khoát áo tu hành Thiên Chúa giáo như tên cố đạo Cát – pha (Caspard – anh cử Sắc nói lệch). Chúng dò la biết được khá tường tận việc quan thân thần Tôn Thất Thuyết đang đợi ngày một ngày hai là khởi nghĩa. Chúng biết rõ cả việc quan thân thần lập một đạo quan mang tên Phấn Nghĩa quân, xây dựng hành tại mới, củng cố Nha sơn phòng Hương Khê giao cho các quan Nguyễn Chính làm Chánh Sơn phòng, Tiến sĩ Phan Trọng Mưu, Phó Sơn phòng, Phan Đình Phùng Tham biện Sơn phòng. Bọn do thám đã mật báo hết với tên toàn quyền lưỡng kỳ.
- Toàn quyền lưỡng kỳ là cái chức chi hở cha? – Khiêm hỏi.
- Ừ, con hỏi ngay những điều chi chưa rõ là cha vui. Toàn quyền lưỡng kỳ là chức quan cao nhất, có quyền điều hành cac cơ quan cai trị cả hai xứ Trung Kỳ, Bắc kỳ. Tên toàn quyền lưỡng kỳ thời vua Hàm Nghi là một tên thống tướng, tức là tướng chỉ huy tất cả các tướng lĩnh trong quân đội Tây dương xâm lược hai kỳ, Bắc và Trung. Tên nó là Cuốc-xi (De Courcy). Lấy cớ vô Huế đệ trình quốc thư của chính phủ Pháp lên vua nước Nam, hắn âm mưu giết quan thân thần Tôn Thất thuyết. Vừa đến kinh đô Huế ngày 20 tháng 5 Ất Dậu (2/7/1885) hắn đã láo xược ra điều kiện cho triều đình: Phải mở cửa Ngọ Môn cho sứ thần Pháp và các võ quan Tây dương vào Hoàng Thành lúc nào cũng được. Phải để quân đội Tây dương vào đóng quân trong Thành Nội….
Tên toàn quyền lưỡng kỳ còn tư giấy sang viện Cơ mật đòi quan thân thần của ta sang tòa sứ Tây nhận lệnh để về thi hành. Biết ý đồ đen tối của hắn, quan thân thần không trả lời gì cả. Ngày hôm ấy – ngày 22 tháng năm, năm Ất Dậu, thần dân khắp kinh thành vẫn thấy sự yên ả của đất đế đô như thường nhật. Nhưng trong hoàng cung, trong tam tòa, trong các bộ đến các quân cơ thì hùng khí cuồn cuộn như sóng trào nước xoáy. Đúng cuối giờ Tỵ, đêm 22 rạng ngày 23, quan thân thần Tôn Thất Thuyết xuống lệnh cho Phấn Nghĩa quân do Trần Xuân Soạn trực tiếp chỉ huy tấn công ào ạt vào khu thượng địa, đồn Mang cá, khu sứ Tây… Giữa sự bủa vây quá mạnh của Tây dương, kinh đô Huế như hòn đảo trơ trọi. Nhưng với tinh thần thà chết chứ không chịu nhục, từ tướng đến quân đã đánh giặc Tây dương một trận oanh liệt. Đến tảng sáng thì đạn dược của quân ta cũng vừa cạn, không còn sức tấn công. Không thể giữ Thành được nữa, đành phải tính nước đưa vua Vua Bá thiên đô như đã trù liệu trước.
Giữa sương đêm mờ mịt, nhờ Trần Xuân Soạn cầm quân giữ chân địch tại Kinh Thành, quan thân thần cùng với hai con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp nhanh chóng hộ giá vua Hàm Nghi và Tam cung lên đường kháng chiến.
Côn hồi hộp hỏi:
- Ba cha con quan thân thần đưa vua ra bằng cửa nào, hả cha?
- Vua ra cửa Quảng Đức, men theo con lộ ven sông qua chùa Thiên Mụ, đến Trường Thi ở La Chữ, con ạ.
- Tam cung là những chi hả cha?
- Là ba bà hoàng vợ chính của Vua. Mỗi bà hoàng ở một cung cấm. Còn Tam cung của triều Nguyễn này là: Bà từ Dũ mẹ vua Tự Đức, bà Trang Y, vợ Tự Đức, mẹ nuôi của vua Dục Đức, bà Học Phi, vợ Tự Đức, mẹ nuôi của vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi.
Khi Đức vua và Tam cung đi lọt, Phấn Nghĩa quân được lệnh rút khỏ thành. Giặc Tây dương ồ ạt vào chiếm đóng khắp nơi trong Nội: Chúng chiếm 9 cỗ súng đồng đã được phong danh ngọc: Hoàng dũng vô địch đại tướng quân. Chúng tranh nhau cỡi lên các nòng súng để chụp ảnh, họa hình gởi về nước. Chúng chia quân vào đóng phủ Tôn Nhân, Đại Lý Tự, miếu Công Thần, chùa Giác Hoàng, doanh trại Thượng tứ, xưởng súng Tả, Hữu tướng quân, sở Lý Thiện, Hữu dục doanh Vũ Lâm, Trung Tiền, Tự Dực doanh Thành cơ, Quốc sử quán, viện Đô Sát, Thái Tường, Trương Giải, Quang Lộc, Hàn Lâm, Thông Chính, Tào Chính cung Giám Dực Vũ, Bình An, Anh Danh, Ngục Thất, Linh Hựu, Tế Sinh, Kho Hỏa dược. Giặc Tây dương xả súng cối xay tàn sát thần dân ta. Chúng san bằng dinh bộ Binh và tư thất của quan thân thần Tôn Thất Thuyết. Những gia nhân không chạy thoát đều bị chúng giết sạch. Cụ Tôn Thất Đính, thầy học Ưng Lịch, phụ thân quan thân thần bị chúng bắt giam. Sau đó chúng đày ông ra đảo Côn Lôn, tận ngoài biển khơi ở phía Nam nước ta. Từ đấy dân ta gọi ngày 23 tháng 5 Âm lịch là ngày kinh đô thất thủ và coi đó là ngày Quốc hận mà nhân dân thù nhớ muôn đời! Hàng năm dân chúng kinh thành làm cỗ cúng để tưởng nhớ vong linh những người bị giặc Tây dương tàn sát trong ngày kinh đô thất thủ.
Khiêm buồn rầu thốt ra với cha:
- Xảy loạn đang đêm hôm chẳng ai biết đường mà chạy, mà tránh đạn, khổ nhất cho người già, người tàn tật và trẻ nít như sắp chúng con, phải không cha?
- Giặc tràn tới, nhà bị thiêu cháy không còn gì khổ bằng, các con ạ.
Vẻ mặt Côn đau đớn nhìn vào nơi mẹ đang dệt vải:
- Mẹ con hay nói: “Nước mất nhà tan”. Đúng lắm, cha nhể?
Chị cử Sắc nói vọng ra?
- Các con để cha kể xong, muốn hỏi chi, các con hẵng hỏi.
Anh cử Sắc vẫn cái giọng buồn buồn:
- Trong lịch sử nước nhà, cha chưa thấy một trượng hợp nào ba cha con hộ giá một Đứ Vua trên bước đường loạn lạc như ba cha con quan thân thần Tôn Thất Thuyết của chúng ta. Lại còn chưa kể tới chi tiết cụ Tôn Thất thuyết được quân dân khắp Kinh thành gọi thân mật bằng biệt danh là: Quan cụ. Vào cái năm hộ giá Vua bá thiên, quan cụ đã ngoài bảy mươi tuổi. Quan thân thần năm mươi tuổi, còn quan Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp các con đã rõ; quan anh hai mươi tuổi được phong chức Khâm sai tán lý quân vụ. Quan em mười ba tuổi được trao trọng trách Cẩm y loan vụ. Vua và tôi cùng lớp tuổi, hàng ngày Tôn Thất Thiệp vác thanh bảo kiếm dài gần bằng người nên chưa đeo bên hông được, ở bên cạnh vua Hàm Nghi để cùng người chơi những trò chơi con trẻ, cùng học chữ. Có bạn chơi, Vua đỡ phần nhớ mẹ, nhớ Hoàng Cung. Hôm Tam cung khóc lóc. Không chịu được đi đường xa, ăn ngủ thất thường, vắng nem công chả phượng, Vua Hàm Nghi cũng buồn lây. Lúc Tôn Thất Thiệp quỳ thưa: “Tâu bệ hà, thần trộm nghe: Tam cung sắp trở về cung. Bệ hạ có hồi loan cùng với Tam cung không?”. Vua Hàm Nghi lưỡng lự rồi hỏi lại cẩm y Tôn Thất Thiệp: “Nếu Trẫm hồi loan thì thần có hộ giá Trẫm không?”. – Tôn Thất Thiệp thưa: “Tâu bệ hạ, thần chỉ hộ giá bệ hạ đi đánh giặc Lang sa để cứu nước, cứu nhà. Dẫu phải chết thì thần chết theo con đường Cần vương vệ quốc của phụ thân thần chớ không về đầu giặc. Xin bệ hạ tha lỗi cho thần chớ thần không về đầu giặc. Xin bệ hạ tha lỗi cho thần đã nói ra cái điều ấy trước bệ hạ”. Vua Hàm Nghi đỡ Tôn Thất Thiệp ngồi lên, nói: “Trẫm thử bụng thần mà nói vậy thôi. Tam cung không chịu được gió táp mưa sa thì Tam cung hồi cung cũng được. Phần Trẫm thì vẫn một chí hướng với quan tướng: Kháng Pháp đến cùng. Trẫm và thần đồng tuế đồng tâm, đồng sàng, đồng mộng. Trẫm lên ngôi lúc sơn hà nguy biến phải lao lung như ri nhờ có được thần ngày đêm cùng Trẫm chia cay sẻ đắng làm cho tuổi ngọc của Trẫm đỡ phần lạnh lẽo. Vậy nên hai ta là: Chiến sĩ nhi đồng cứu quốc vong!!!”
Ngày phụ chánh đại thần kiêm thượng thư bộ lại Nguyễn Văn Tường hộ giá Tam cung trở lại kinh đô Huế, Đức vua lấy cớ vi hoà (ốm) không đến chầu bái biệt. Cha đã bỏ công tìm hiểu chặng đường bá thiên của Vua: Ngày 23 tháng năm Ất Dậu (5/7/1885) Vua từ hoàng cung đến La Chữ. Ngày 24 tháng năm (6/7/1885) Vua tới thành cổ Quảng Trị. Ngày 27 tháng năm (9/7/1885) Vua rời Quảng Trị đi Sơn Phòng Quảng Trị, ngày 1 tháng sau (12/7/1885) thấu bản doanh. Ngày 9 tháng sáu (20/7/1885) Vua đến Bảo Đài, xã Thủy Ba, sát địa giới tỉnh Quảng Bình. Ngày 11 tháng sáu (22/7/1885) Vua phải quay trở lại Cam Lộ. Ngày 15 tháng sáu (26/7/1885) Vua ngược thượng đạo, trèo qua dãy núi Mai Lĩnh (Quãng Trị) đến đồn Chấn Lào. Ngày 20 tháng sáu (31/7/1885) Vua rời Chấn Lào đi theo đường sơn cước ra tới đồn Quy Hợp, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Hành tại tạm đặt ngay Sơn Phòng Hà Tĩnh. Ở đây bốn tháng thì ngày 16 tháng mười, năm Ất Dậu (22/11/1885), Vua lại phải quay trở lại vùng rừng núi Quảng Bình, hành tại ở cửa Kha. Về sau thiên đến Tá Bào. Cái ngày dời đến La Chữ thì quan thân thần đã vâng lệnh vua viết tờ thông cáo, báo cho thần dân cả nước biết, Vua đã bá thiên và quyết tâm kháng Pháp lâu dài. Dời tới Hà Tĩnh, Vua xuống Hàm Nghi Đế Chiếu, thường gọi là: Chiếu Cần Vương. Chiếu vừa ban xuống, khắp nơi các bậc khoa bảng, tai mắt, các nhà hằng tâm hằng sản, dân chúng, nam phụ lão ấu đều hưởng ứng nhiệt liệt. Nổi vang nhất là cuộc nổi dậy của quan Đình Phan Đình Phùng và của quan Tán dương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật, nhạc phụ của quan thân thần Tôn Thất Thuyết. Dân quen gọi là quan Tán Thuật lãnh đạo cuộc khởi nghĩa bãi Sậy, tỉnh Hưng Yên.
Anh cử Sắc giọng mỉa mai:
- Hậu thế sẽ phán xét. Dầu cho có những kẻ xuyên tạc, xuyên tạc bằng miệng, bằng giấy bút, viết hàng chồng sách, đục xóa hằng trăm bia…Lịch sử rất công bằng. Các con nhớ cho là, ông Hoàng Cao Khải, hiện là quận công phụ chánh đại thần vốn là một chàng cử nhân, không bán được chữ kiếm ăn ở quê nhà phải xiêu cư ra Bắc Kỳ, lần mò được một chức quan nhỏ. Muốn làm quan ta ông ta phải bán mình cho quỷ trắng, đàn áp dã man cuộc kháng chiến của nhân dân miền Hưng Yên, Hải Dương và quanh vùng đó do quan Tán Thuật lãnh đạo.
Anh cử Sắc thở dài nói tiếp:
- Ở quê ta, các con thường nghe kể về bao nhiêu cuộc nổi dậy hưởng ứng Chiếu Cần Vương. Ở làng Chùa, làng Sen ta có quân của quan Bang Mậu (Vương Thúc Mậu) gọi là Chung Nghĩa binh. Bà ngoại và mẹ của các con đã từng gánh gạo; gánh những gánh cơm nắm đi tiếp tế cho các quan Đình, quan Đề, quan Nghè. Có tiếng hơn cả là quân khởi nghĩa của quan Đình (Phan Đình Phùng). Chính quan Đình là người đã bị quan thân thần bắt giam tại triều, lý do cha đã kể hôm trước. Nhưng việc phò vua cứu nước là nghĩa cả, phải gác oán thù riêng cho nen quan Đình đã phất cờ khởi nghĩa theo Chiếu Cần Vương chống giặc đến hơi thở cuối cùng. Ở ngoài Diễn Châu, quan Nghè Nguyễn Xuân Ôn lập căn cứ chống giặc Tây, dân cả vùng Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu đều theo quân Nghè Ôn đánh giặc cứu nước. Ngoài Thanh Hóa tả quân đô thống Trần Xuân Soạn cùng với các ông Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Phạm Bành lập chiến khu kiên cố Ba Đình đánh Tây dương, bọn giặc còn khiếp vía hơn cả chiến khu Bãi Sậy, chiến khu Vụ Quang….
Anh cử Sắc lại thở dài:
- Nước nhà tuy ở vận mạt chứ anh hùng cứu nước tài giỏi đâu có hiếm? Rốt cuộc, các anh tài bị chúng giết dần giết mòn. Những cuộc khởi nghĩa quân sĩ hao mòn, dân đói kiệt quệ và bị giặc bao vây, khi có tiếp tế được thì cũng tàn lụi dần. Vua bá thiên khắp rừng sâu, núi cao mà vẫn không yên. Bọn sứ Pháp vẫn tìm cách liên lạc để mua chuộc Đức vua đều vô ích. Giặc Tây dương vẫn để trống ngôi vua từ tháng 5 đến tháng 11 năm Ất Dậu chúng mới đưa Ưng Đường lên ngôi. Ưng Đường tức Nguyễn Cảnh Tây, con trưởng của Hồng Cai và là anh của Đức vua Hàm Nghi. Ông ta lên ngôi hiệu là Đồng Khánh liền gửi Quốc thư sang cho Tổng thống Pháp, lời lẽ trong thư gạn không còn một chút quốc sĩ nữa. Ông ta quỳ rạp mình qua văn ngôn…”Vương tôi vô cùng biết ơn quý quốc. Cái ơn ấy không biết lấy gì báo đáp quý quốc. Nước tôi xin kính cẩn nhận quý quốc là Mẫu quốc. Vương tôi tấn phong quý Đô thống đại nhân Cuốc – xy (De Courcy) làm bảo hộ quận vương và ngài Khâm sứ đại thần Săm - pô (De Champeaux) làm Bảo công.
Côn thốt lên: “Ôi! Dân mình biết sao được chuyện này, cha ơi” - Nói chi dân! – Anh cử Sắc giọng chua cay – Cả đến hạng mủ cao áo dài cũng lóa mắt và run như cầy sấy trước cái mũ chín rồng ngự trên ngai vàng, bệ ngọc! Còn cái thối nát, sự bẩn thỉu, sự đớn hèn ti tiện ở trong cung cấm thì ai cho dân biết? Nếu có biết được đôi ba việc thì dân mình cũng chỉ xì xầm, nhỏ to trong xó nhà, nơi chợ búa đâu có ăn nhằm chi! Bởi vậy, cha biết được vài việc, cha nói lại với các con những điều ấy ở lại trong đầu các con, vì sắp tuổi này còn hoang sơ, chưa có mấy việc đời trong đó.
Ông thầm nghĩ: “Ta phải tạc ngay vào tâm trí các con những bức tranh lịch sử bi tráng của quê hương, của đất nước ở các thời mà ta chứng kiến, ta nghe, ta lượm lặt gom góp được”. Ông kể tiếp:
- Các con nghe cha kể mấy hôm nay về tình cảnh vua, quan, dân tình của những năm sáu mươi, bảy mươi, tám mươi của thế kỷ này, cái thế kỷ cha con ta ra đời, lớn lên trong biến cố của đất nước. Các con đã nghe cha kể đó: Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh là ba anh em cùng một cha mẹ sinh ra. Nhưng Kiến Phúc không giống Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi tuổi thơ mà chí trượng phu. Nếu Hàm Nghi không có thiên tư, không có chí trượng phu thì một quan thân thần phò, chứ mười quan thân thần như Tôn Thất Thuyết vẫn là một ông vua làm vì như bao ông vua khác. Ví như nghề làm gốm, nung đất thì đất thành cái bát sành chứ không thể thành đĩa ngọc được. Đồng Khánh là anh trai của Hàm Nghi, nhưng bản chất cái đầu ông ta là đất sét cho nên khi lên ngôi vua liền mất hết liêm sỉ. Người đã mất liêm sỉ thì làm gì còn quốc sỉ. Ngồi trên ngôi cao thì đức tài phải cao, nhân cách phải lớn. nếu không, cái ngôi thiên tử là nơi hạ tử của những kẻ bất nhân vô đạo khoác danh sang trọng để làm điều dâm bạo. Đồng Khánh tuy là anh Vua Hàm Nghi, nhưng Đồng Khánh là loại “vua tự khai tử trên ngôi thiên tử”. Ông ta vừa gởi “Quốc thư” hàm ơn “Mẫu quốc” cho Tổng thống nước Pháp, vừa xuống dụ xóa hết các quan tước và tịch biên toàn bộ gia tài của quan thân thần Tôn Thất Thuyết. Đồng Khánh lại còn ra dụ xóa tên cha con Tôn Thất Thuyết trong sổ Tôn nhân, đổi sang họ Lệ, họ của mẫu thân Tôn Thất Thuyết. Và Đồng Khánh lệnh cho truy nã cha con Tôn Thất Thuyết về kinh. Ông ta còn ấm ức một nỗi nữa là: Lên ngôi báu mà không có ấn vàng “Ngự Tiền Chi Bảo”. Vì vua Hàm Nghi đã mang theo rồi. Ông ta liền cho đúc ngay một ấn khác. Rồi sang xin Tam cung thừa nhận và nhờ Tam cung viết thư vận động Hàm Nghi trở về Kinh đô Huế. Tam cung đã cùng với ông ta viết chung một “Ngọc thư” đóng ấn vàng Từ Dũ và ấn mới của Đồng Khánh gửi – Vua Hàm Nghi có nhận được và phúc đáp Đồng Khánh. Thư phúc đáp có đoạn viết: “…Vì cùng máu mủ mà giữ tình anh em, còn về vương đạo thì Trẫm là hàng Tiên đế, Huynh tuy đang ở ngôi nhưng chẳng phải người kế nghiệp của Trẫm, lấy giang sơn gấm vóc bốn ngàn năm xây đắp. Ngôi của Huynh ngự trên ngọn súng đại bác của đám quỷ trắng lấy chi làm báu mà vời Trẫm về làm thần của huynh? Trẫm là giòng dõi Tiên Rồng thì vĩnh viễn thuộc về dòng giống Tiên rồng….”
Khiêm và Côn tỏ vẻ khoái trá về phong độ của Đức vua Hàm Nghi. Khiêm nói:
- Chả lẽ con khen “phò mã tốt áo”, Vua Hàm Nghi thiệt đáng khâm phục, cha ạ.
- Con còn thấy sự tài dõi trong việc chọn đấng minh quân của quan than thần, cha ạ. – Côn tiếp lời anh.
- Phải, phải lắm – Anh Sắc mở rộng lời nhận xét của bé Côn – Ưng Đăng là anh, Ưng Lịch là em. Thường thường ai cũng nghĩ anh lớn tuổi mà lớn hơn cả chục tuổi thì phải khôn phải giỏi hơn em. Vậy mà quan thân thần đã không chọn Ưng Đăng mà chọn Ưng Lịch lên ngôi với vai trò lịch sử: Vua kháng chiến chống giặc Pháp xâm lược, chứ không phải chọn ông vua để làm vì cho giặc mượn tiếng giày xéo non sông, bắt muôn dân làm nô lệ.
Chị Sắc ngừng tay dệt nhắc các con:
- Mẹ đã nhủ với các con, để cha kể nốt chuyện rồi hỏi sau ấy mà.
Khiêm, Côn cười vẻ biết lỗi với mẹ, nhưng lại giục cha:
- Vua Hàm Nghi đáp thư cứng rắn như vậy, Đồng Khánh và bộ Tây hắn tức tối lắm, thưa cha.
- Bọn Tây bày mưu với Tam cung và Đồng Khánh gửi thư nhằm dò xét nơi vua Hàm Nghi ở để bố trí bắt vua. Quả như vậy, giữa lúc phong trào Cần Vương đang gặp nhiều thất bại dồn dập, nhiều yếu nhân bị hy sinh, bị chết bệnh, bị bắt, vũ khí đạn dược, quân lương đều kiệt quệ, quan thân thần giao việc bảo vệ vua cho Tôn Thất Thuyết và một số cận vệ trao việc liên lạc với các lực lượng kháng chiến và trấn giữ vùng nam Nghệ Tĩnh cho Tôn Thất Đạm. Trần Xuân Soạn thay vai trò ông trong lúc ông sang Trung Quốc được ít lâu thì tên Trương Quang Ngọc – các con nhớ kỹ tên phản bội này: Trương Quang Ngọc, hắn lập mưu với đội hộ giá bắt vua Hàm Nghi để cùng được phần thưởng của giặc Tây. Các con nhớ tên đội hộ giá: Nguyễn Đình Tình. Tên đội hộ giá này hàng ngày ở bên cạnh vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thiệp – Khiêm ngồi ngay người chân xếp bằng, tay chống xuống đùi nhìn cha không chớp mắt. Côn ngồi chân co chân duỗi, một tay chống xuống giường, một tay chống đùi đỡ cằm cũng nhìn cha không chớp mắt. Chị cử Sắc đã ngừng tay thoi. Mắt chị để ngoài cửa sổ. Ngoài sân, gió xe những chiếc lá khô bay lang thang. Anh cử Sắc giọng vừa đau đớn, vừa giận dữ dằn từng tiếng: - Đúng cái đêm 27 rạng ngày 28 tháng 9 năm Mậu Tý (30/10 sáng 1/11/1988), hai thằng phản nước bán vua, Trương Quang Ngọc, Nguyễn Đình Tình lén lút dẫn một toán lính vào đại bản doanh nằm sẵn. Bọn Tây thì lặng lẽ ém quân quanh đại bản doanh từ chập tối.
Hành tại lúc này ở bên bờ suối Tá Bào, vua Hàm Nghi nằm ngủ ngon giấc. Tôn Thất Thiệp nằm ở gian ngoài, lối ra vào cửa hành tại. Phía bên hành tại còn một cửa phụ để lính cẩm y ra vào. Tên đội Tình hằng ngày ra vào cửa này. Trời đã cuối thu miền sơn cước đêm rất lạnh. Vua ngủ đấp tấm áo long bào trùm kín, Tôn Thất Thiệp cũng phủ áo kín mặt. Đội Tình dẫn lối cho tên Ngọc và một toán lính người thiểu số đi vào hành tại bằng cửa phụ. Vào lọt khỏi cửa, chúng mò mẫm bủa ra các phái quanh nơi vua nằm. Đội Tình châm đèn lồng hạp lên. Bon lính run, tên Ngọc cũng run…Nghe tiếng động, Vua và Tôn Thất Thuyết vùng dậy! các mũi giáo đã châu vào quanh Tôn Thất Thuyết và tên Ngọc nhảy lên long sang ôm lấy Vua Hàm Nghi, có cả hai lính giúp sức. Vua mắng:
- Quân phản chủ. Tụi bay muốn ăn thịt ta thì lui ra đã.
- Bẩm! Lệnh của sứ thần mẫu quốc Pháp và quốc vương An Nam Đồng Khánh, chúng con đón Đức vua về kinh.
- Mẫu quốc Pháp, vua Đồng Khánh của các ngươi cho đón ta cái kiều cướp rừng ni hỉ?
Vừa lúc đó Tôn Thất Thiệp chộp được thanh gươm vùi dưới tấm áo đắp vung lên chem. Được một tên, bọn lính bị đánh trả bất ngờ đã dạt ra. Tôn Thất Thiệp lao vào đâm chết tên Ngọc, nhưng!.... Nhưng!...một mũi lao của tên lính bảo vệ tên Ngọc phóng vào ngực của Tôn… Thất… Thiệp!... Với sức mạnh của tuổi hoa niên buổi đầu tráng kiện và dũng khí người Trung Nghĩa, ông không ngã xuống, ông tự tay rút mũi lao ra khỏi ngực, máu vọt theo hình cầu vồng lên áo vua Hàm Nghi. Ông quỳ xuống trước vua nhưng lảo đảo ngã. Đức Vua đỡ lấy ông! Ông chỉ kịp nói: “ Thần đã không bảo vệ được Hoàng đế! Thần có tội với quốc dân, với Hòang đế, với phụ thân của thần!!”
Ông tắc thở trên tay vua Hàm Nghi! Đức Vua bế ông đặt xuống long sàn và cởi áo hoàng bào đắp lên thi hài người cận vệ trung thành, người bạn tuổi thơ trong máu lửa. Đức vua cúi đầu vĩnh biệt. Đức vua quay đầu nhìn bọn chó phản chủ. Chúng tâu gì vua cũng không nói. Từ lúc này cho tới khi chúng đưa Đức vua về giam ở đồn Thuận An, vua Hàm Nghi không hé răng. Cả khi bà Học Phi, mẹ nuôi đến khuyên, Vua cũng không nói gì. Đức vua câm lặng cho đến ngày chúng đày sang một nước Châu Phi, thuộc địa của Tây dương (An-giê-ri)
Còn Tôn Thất Đạm nghe tin vua đã bị bắt, em trai đã hy sinh, ông ngất lăn ra giữa bản doanh đèo Ngang! Trước lúc nghe biến cố này ông đã đau đớn về cái tin dữ: Cha đang bị nhà Thanh giam giữ, vì họ đã bắt tay với Pháp từ lâu. Ông trấn tĩnh lại ngay. Ông mặc lễ phục, trèo lên đỉnh núi cao hướng về hành tại, chắp tay nói giữa thanh thiên bạch nhật: “Thần Tôn Thất Đạm, Khâm sai chưởng lý quân vụ, cúi đầu Ngự lãm. Thần không được gần gũi hoàng thượng để hộ giá khi có phản thần làm việc ám muội. Thần mang tội rất lớn! Ôi! Đây là mệnh trời xui nên nước ta gặp bước suy vi, nên các trung thần không được gần Vua để cứu giá. Các quan văn võ sẽ mang hận suốt đời. Vậy xin Hoàng thượng tha thứ, và thần xin thề trước đất trời giữ mãi lòng trung cho đến chết”. Ông đã viết những lời ấy vào tờ sớ, cho lính mang về nơi giam giữ vua Hàm Nghi. Ông tập hợp quân sĩ lại, làm lễ cầu yên cho Đức vua Hàm Nghi, cho phụ thân ông và truy điệu Tôn Thất Thiệp. Ông an ủi quân sĩ trước tổn thất to lớn này, và ông khuyên mọi người đành nuốt hận trở về quê quán làm ăn nuôi chí phục thù, chờ thời cơ sẽ ra tay cứu nước. Thời vận chưa tới thì nuôi con cháu, dạy cho con cháu nối bước ông cha rửa hờn cho Tổ Quốc!
Quân sĩ buông xuôi hai tay, vũ khí rơi xuống! Mọi người cúi đầu lê từng bước nặng nề trên các ngã đường quê xơ xác!
Quan Khâm sai Tôn Thất Đạm đi vào rừng cởi tấm khăn nhiễu trên đầu. Ông tuẫn tiết trên cành cây đại thụ lúc hoàng hôn ngày 12 tháng 10 năm Mậu Tý (15/11/1988)!
Tiếng sụt sịt của chị cử Sắc trong phòng bên vọng sang. Anh cử Sắc thấy mắt mình cũng ươn ướt và hai con anh ngồi như hóa thạch. Đứng lên châm hương trầm, anh nói với hai con và tự nhắc nhở mình: - Quan cụ, quan thân thần, quan Khâm sai Tôn Thất Đạm, quan Cẩm y loan giá Tôn Thất Thiệp đều là những bậc: “ Chí sĩ nhân nhân vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân” nghĩa là ta phải luôn đạt cái chítrong cái nhân: Sống là sống với nhân, chết là chết vì nhân, gặp cảnh ngộ phải xả than, thì xả than để giữ nhân, chứ không thể sống mà mất đức nhân….
PHẦN 3
Tiếng chim ríu ra ríu rít trên mái nhà. Không gian mở theo tiếng chim xa xanh bát ngát. Côn dừng tay trên trang sách, lắng nghe từng tiếng chim. Giữa âm thanh chim ca hát trên cành cây, tai Côn lọc rõ một tiếng chim non yếu ớt buồn buồn: Thiệp….Thiệp…. Thiệp… Côn bâng khuân mường tượng ra nhiều hình ảnh trong đầu…trước mắt Côn đang hiện dần con đường mòn lắt lẻo vắt qua những cánh đồng lúa vàng, những cồn mã như úp bát, cây đa giữa đồng, cái ao đầu làng và con đường rẻ làm nhiều nhánh nhỏ vào làng như bàn tay xòe năm ngón. Hình ảnh bà ngoại đứng trên sân nhìn ra đường gọi cháu về ăn cơm lững thững hiện ra trong hồi tưởng của Côn…Khiêm từ dưới bếp lên, thấy em ngồi ngẩn trước đống sách của cha, gọi giật giọng:
- Côn! – Côn giật mình. – Dạ anh gọi em!
- Em lục lọi sách kín của cha hả?
- Lại đây anh – Côn nói vẻ hệ trọng – Em đã tìm thấy tờ Chiếu Cần Vương
- Chế…t! chế..t! Cha chưa cho phép em dám liều, vô lễ rứa à?
- Em đã xin cha cho anh em mình được đọc từ Chiếu. Cha hứa nhưng cha chưa nhớ cất kỹ vào đâu. Giờ em lục thấy, cha cài kín giữa tờ bìa rồi ghép lại, tờ Chiếu được bọc bằng giấy điệp.
Khiêm ngồi xuống bên em. Hai anh em chăm chú vào tờ chiếu Cần Vương, Côn nhận xét:
- Chữ của cha anh ạ.
- Cha sao lại, chứ mần chi có được tờ chính
- Hai anh em mình đọc thử coi có biết được hết mặt chữ trong tờ Chiếu ni không.
- Ngắn thôi ấy mà!
- Ngắn mà nhiều chữ khó, chưa học thì cũng không thể đọc hết được anh ạ.
- Ừ, em đọc trước đi.
Côn đọc
- “Hàm Nghi Đế Chiếu”
- Khoan …khoan đã. Phải thắp hương em ạ. Cha mỗi lần đọc các loại sách cao siêu của các bậc Thánh hiền, đọc Chiếu, đọc Sắc phong, đọc Dụ của Vua, cha đều thắp hương đó.
Côn đang lưỡng lự thì Khiêm đã cầm nén hương chạy xuống bếp châm lửa.
Dưới mái tranh buổi ban mai, trong Thành Nội, thoang thoảng hương trầm, hai mái tóc trái đào nghiên xuống tờ Chiếu Cần Vương cách đó hơn mười năm về trước.
Đọc xong hai anh em nhắc lại từng câu, bàn luận giống như cha thường đàm đạo với các bạn văn.
Khiêm đọc nhấn dài giọng:
- “Tự cổ ngự nhưng chí sách, bất xuất, chiến, thủ, hòa tam gia nhi dĩ. Chiến chi, tắc vĩ hữu kì cơ, thủ chi, tắc nan kỳ đắc lực, hòa chi tắc sở cầu vô yểm. Dương thử sự thế thiên nan vạn nan, bất đắc dĩ nhi dụng quyên…”. Vậy là, em thấy không. Vua cũng do dự về ba cái sách chống giặc: đánh, giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội, giữ lại lo không đủ sức, hòa thì bị chúng đòi hỏi với lòng tham vô đáy.
Côn ngồi trên ghế thỏng hai chân xuống đất. Hai ngón chân cái dí xuống nền nhà, bàn tay trái níu vào cạnh bàn, ngón trỏ tay phải đưa qua đưa lại trên hàng chữ anh ánh mực nho sang như những con mắt ngấn lệ.
Khiêm biết Côn vốn hay xúc động. Đọc sách Nhị Thập Từ Hiếu cũng trào nước mắt. Nhìn cử chỉ em, Khiêm thấy em đang nén sự nghẹn ngào, lựa lời nói với em lời đồng cảm.
- Đức vua Hàm Nghi tuổi nhỏ mà gánh vác trọng trách giang sơn, lớn lắm em hề!
- Anh nói đúng quá! – Côn nhấc bàn tay trái của mình, nhẹ nhỏm hẳn lên. – Đọc Chiếu Cần Vương, em càng thấm thía bài học thuộc lòng Ái Quốc của cha giảng mới rồi cho anh em mình. Em mường tượng thấy Đức vua Hàm Nghi đang ngồi trước mặt, nói với em: “Ngã quốc nhi lai, ngẫu nhân đa cố”. Cha cũng thường nói vậy: Nước ta gặp nhiều biến cố lắm. Đức vua nói câu này, thương quá: “Trẫm dĩ xung linh tự vị, kỳ ư tự cường tự trị, bất hại vi mưu, Tây phái hoành bức, hiện tình nhật thâm nhất nhật”… Thương Vua quá chứ anh. Này nhá: “Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, chưa kịp lo việc tự cường tự trị. Bọn phái viên của Tây hoành hành áp bức ngày một thậm tệ”…
- Hai anh em đọc sách chi rứa? Nghe hay thảm thiết lắm!
Khiêm, Côn bất thần cùng quay ra:
- Ôi! Mệ Huệ Minh….Anh Kỳ….- Khiêm cất tiếng hỏi, Côn tiếp – Mệ và anh Kỳ đến lâu chưa. Kín tiếng ghê!
Huệ Minh cười thoáng trên làn môi cắn chỉ, nói nhỏ nhẹ:
- Đến chưa dừng chân thì anh Kỳ đã đánh tiếng mà anh còn trách bọn tôi “kín tiếng”! – Huệ Minh kéo dài hai tiếng: kín tiếng. Côn vội vàng thanh minh:
- Kín tiếng là lúc nói môi không hở, răng không lạnh. Chịu chưa?
Huệ Minh phì cười, Kỳ, Khiêm cùng đều cười.
- Anh Côn vụng chèo nhưng rất khéo chống nghe – Huệ Minh khen mát lại Côn. Khiêm đỡ lời:
- Hai anh em tôi từ sáng giờ đọc chưa hết tờ Chiếu Cần Vương.
Huệ Minh tưởng mình nghe nhầm hỏi lại:
- Hai anh đọc…đọc Chiếu Cần Vương à?
- Vâng – Côn đáp. Huệ Minh càng sửng sôt, Kỳ hỏi luôn:
- Chắc thầy cất giữ được?
- Vâng – Côn đáp
Khiêm nói:
- Mệ và cậu Kỳ sợ Chiếu Cần Vương à?
Kỳ đáp vô tư:
- Việc gì phải sợ?
Huệ Minh có phần tự ái với Khiêm:
- Răng anh Khiêm hỏi lạ rứa? Nỏ lẽ bọn tôi không biết đau xót nước mất, thương nhớ và kính trọng Đức Hàm Nghi vì nước phải đi đày sang đất nước người?
Biết Khiêm lỡ lời, thấy Huệ Minh buồn thật sự. Côn đỡ lời thay anh:
- Mệ, cậu Kỳ đừng giận lời anh Khiêm vừa nói. Bởi hôm cha tôi kể chuyện kinh đô thất thủ có dặn rằng: Yêu nước là một tình cảm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người dân trong một đất nước. Vậy mà, ở nước ta hiện thời không được nói đàng hoàng chữ Ái quốc. Cả đến Chiếu Cần Vương của Đức vua Hàm Nghi cũng bị coi là “ngụy chiếu”. Cha dặn bọn tôi là phải giữ miệng. Mệ và cậu Kỳ hiểu cho lòng bọn tôi. Huệ Minh vẻ xúc động, mắt nhìn xuống, khép nhẹ hàng mi. Diệp Văn Kỳ hồn nhiên nói:
- Cái bụng cậu Khiêm, cậu Côn thiệt như đếm vậy đó, mệ Huệ Minh ạ. Ngày tụi mình nhập môn, thầy cử Sắc cũng đã dạy bài Ái Quốc là bài mở đầu “lót dạ” cho chúng mình để theo con đường học của thầy. Hôm tôi ngồi học ôn bài Ái Quốc, cha tôi đang đi dạo ngoài hiên môn, tôi không để ý. Tôi đọc to từng câu trong bài để dễ thuộc. Lúc đọc câu: “Quốc gia, tải dân chi châu dã…Bạn Tổ Quốc, do châu nhân tự huyệt Kỳ Châu dã…”, cha tôi bước vô nói: “Côn giải nghĩa Nôm cha nghe”. Tôi nói như thầy giảng: “Nước, Tổ Quốc là con thuyền chở dân, kẻ phản lại Tổ Quốc chẳng khác chi người ở trong con thuyền đã đục thuyền thủng giữa biển khơi”. Cha tôi gật đầu nói với tôi: “Cụ Thượng Tấn (Đào Tấn) đã chọn được một người thầy dạy con học đúng như cha mong đợi! Xưa và nay, đất Nghệ đều là đất sinh hào kiệt, sinh anh tài, sinh người nghĩa khí!
- Mệ còn giận tôi nữa không, mệ Huệ Minh? – Khiêm hỏi rất hồn nhiên.
- Buồn. Tôi nỏ giận mô. Mà cũng hết buổi rồi.
Phòng học vui vẽ hẳn lên. Côn và Kỳ nghe tiếng chim ríu rít trên mái nhà xa lanh lãnh hòa vào bầu trời xanh trong. Tay Côn vẫn giữ khư khư tờ Chiếu Cần Vương.
Khiêm kể thêm với Kỳ về quan Đào Tấn:
- Cha tôi than với với cụ Thượng Tấn từ thời cụ ngồi Tổng đốc An Định. Cha tôi đậu khoa thi Hương trường Nghệ, cụ Thượng Tấn bắt đầu kết thân với cha tôi từ trong buổi tiệc khoán đãi các ông tân khoa.
Côn đưa tờ Chiếu Cần Vương cho Huệ Minh đọc. Huệ Minh lại trao cho Kỳ, Huệ Minh nói:
- Tình đồng môn có khi hơn cả tình đồng tộc, thầy cử Sắc đã dạy chúng ta cái điều ấy. Đã kết bạn sách đèn thì đâu còn có phân biệt con nhà quan với con nhà dân. Tấm gương sáng về tình bạn giữa thầy cử Sắc với cụ Thượng Tấn đáng để chúng mình học lắm. Hai cậu là con thầy, bọn tôi là học trò của thầy, là bạn sách đèn của hai cậu, hoàng thân quốc thích không có dính dáng chi đây cả.
Côn phá tan cái không khí ngột ngạt bằng câu chuyện vui:
- Bà ngoại tôi ở ngoài Nghệ An thuộc rất nhiều chuyện cổ tích hay trần đời. Ngày Côn chưa biết chữ bà ngoại đã kể cho Côn nghe chuyện cổ tích: Cô Tấm mồ côi cha mẹ, đi xem trẩy hội mùa xuân đã được hoàng tử kén về làm vợ - Kỳ có vẻ thích thú gật gật đầu – lại còn chuyện về đời Hùng Vương có chàng Chử Đồng Tử đi đánh cá thấy công chúa Ngọc Dung đi ngoạn cảnh bên sông. Chàng sợ quá, vì không có áo quần che thân đã vội nằm vùi cát lên kín người. Công chúa không biết, chọn nơi vắng vẻ ấy hạ lệnh cho đám nữ tỳ vây kín màn để công chúa tắm. Lúc tắm xong lên thay xiêm y. Trời xui đất khiến sao đó, các nữ tỳ đã quay màng cho công chúa đúng nơi bãi cát mà chàng Chử Đồng Tử trốn. Chàng muốn thoát khỏi cái nơi đáng sợ này trước lúc công chúa tắm xong lên. Nhưng đám nữ tỳ đứng ngoài màn vây khá đông. Chàng muốn chui xuống lòng đất mà không được. Lúc công chúa vào trong màn, chàng nhắm mắt nín thở. Chẳng hay một nữ tỳ bưng lên một thau nước để công chúa rửa thân, thau nước tưới vào chân công chúa, chảy lênh láng cát trồi làm lộ cả thân hình Chử Đồng Tử. Công chúa hốt hoảng suýt ngất đi. Chử Đồng Tử quỳ thưa với công chúa về cảnh ngộ của mình. Công chúa nghe ra liền nghĩ duyên này trời đã xe cho. Nàng kết tình chồng vợ với Chử Đồng Tử. Huệ Minh cố nén cười không được. Tiếng cười cả bốn người vui nhộn hẳn lên.
Huệ Minh giọng ngượng ngập:
- Cậu Côn đã thêm mắm thêm muối khi kể. Tôi cũng được nghe chuyện cổ tích ấy, nhưng Chử Đồng Tử sợ trốn vô lùm cây, công chúa gặp phải chứ mần chi có cái chuyện Chử Đồng Tử vùi mình vô bãi cát?
- Đã gọi là kể chuyện cổ tích thì chẳng ai kể giống ai được. Tôi kể theo lối của bà ngoại tôi đó. Tôi cũng thêm thắt nhưng ít thôi.
- Người đời xưa tốt lạ hề - Khiêm nói – Hoàng tử kết tóc xe tơ với cô gái mồ côi ở chốn thôn quê. Công chúa kết tình phu phụ với anh chàng chăn trâu, nghèo đến nỗi không có một miếng giẻ trên người! Thời nay có đốt đuốc đi tìm khắp chốn cùng nơi cũng khó gặp được tình người với người như rứa.
Kỳ đánh trống lảng:
- Bửa ni, thầy cho nghỉ học, chúng mình phải đi chơi một tí chớ, ngồi bàn hoài các chuyện của các cụ à?
- Đúng đó – Huệ Minh nói giọng hăng hái. – Chúng ta sang chú phó Tràng xem chú ấy chạm đồ thờ, đẹp lắm.
Kỳ, Khiêm đều đứng dậy, Huệ Minh còn do dự:
- Chừ vẫn chưa thấy Hạnh đến, ta chờ thêm vài khắc nữa.
- Đi thôi – Kỳ giục – Hạnh chúa lề mề.
- Hạnh đến đây không thấy bọn ta, khắc sang chú phó Tràng tìm – Khiêm nói
Bốn người học trò xấp xỉ bằng đầu nhau rảo bước dưới hàng cây văng vẳng tiếng chim và tiếng là xôn xao, nhập hòa trong nắng. Côn lắng nghe. Đứng lại, vẻ thận trọng:
- Có một tiếng chim trên cây kia, nghe lạ lắm.
Cả nhóm đều ngước nhìn. Huệ Minh bình thắng lắng nghe, không nhìn lên ngọn cây. Côn lại nhắc:
- Phải lắng tai thật tĩnh lặng mới phân rõ được tiếng chim nhỏ, mới ra ràng thì phải.
- Ừ. Ừ…- Kỳ nói – Có tiếng chim non thiệt. Nó kêu chậm và thấp: “Thiệp”… “Thiệp”… “Thiệp”…hay “Tiệp”… “Tiếp thiếp” lóng ra mấy tiếng ấy đều đúng cả.
- “Tiệp …tiệp” thì đúng hơn – Huệ Minh xác nhận
- Giữa “tiệp” và “thiệp” chứ nỏ giống “thiếp” hay “tiếp”.
Côn hỏi các bạn.
- Hay quan Cẩm y Tôn Thất Thiệp bị giết trong hành tại vua Hàm Nghi, oan hồn ông hóa thành chim bay về kinh đô Huế, quê hương ông?
Cả nhóm học trò yên lặng, đăm đăm nhìn lên hàng cây hun hút lưng trời!....
Khiêm gần như trách em:
- Em hay tưởng tượng hảo huyền tận đâu đâu!
- Chưa hẳn là hảo huyền cậu Khiêm ạ. Điều cậu Côn mơ tưởng có khi là thật. Vì quan Tôn Thất Thiệp nhớ nước, thương vua Hàm nghi mà đã hóa ra chim cũng nên. Các cụ thường nói: Oan hồn thì hồn hiện. Vua Thục nhớ nước, chết đã hóa ra con chim quốc. Khương Linh Tá bị giết còn hóa thành đèn dẫn đường cho Đổng Kim Lân bế ấu chúa đi trong đêm kia mà – Huệ Minh nói.
- Có khi cậu Côn nói đúng đó – Kỳ nói, mắt vẫn nhìn lên hàng cây.
- Không phải là tiếng chim oan hồn thì đó là tiếng chim gọi bạn, gọi chúng mình nhớ gương trung liệt Tôn Thất Thiệp – Côn nói, Khiêm ưng ý: - Nói rứa nghe được.
Khiêm giục các bạn đi và nhắc Huệ Minh chú ý đường đá lổn nhổn.
- Mệ đi hài cao đế, đừng nhìn lên cây nữa kẻo ngã đó. Đường ghồ ghê ni nhiều “bẫy” lắm.
- Dạ, đa tạ cậu Khiêm
- Nơi ghồ ghề khúc khủy chưa chắc bị ngã mà lại ngã ở đoạn đường bằng phẳng đó, mệ ạ.
- Dạ, có khi gặp vậy đó cậu Côn ạ.
- Có lẽ….Hồ Quang kia rồi! – Kỳ nói. Cả nhóm nhìn về trước. Quang thấy Côn trước, chưa vội đến. Quang chào Huệ Minh và cháo Khiêm, bá vai Kỳ, bá vai Côn cùng đi đến nhà phó Tràng.
Huệ Minh đi sau cùng, cách mấy bước, vấp phải trái mù u, Huệ Minh ngã quỵ gối xuống, kịp ối một tiếng. Cả nhóm chạy lại nhưng chỉ ngồi xuống bên cạnh. Huệ Minh ôm lấy chân xuýt xoa. Côn ghé xuống thổi thổi vào chổ đau cho Huệ Minh. Rồi Kỳ, Quang, Khiêm đều làm theo Côn. Nhưng con trai không dám đụng vào người con gái, dù chỉ ở bàn chân. Một bà cụ đi qua, liền cúi xuống nắn bóp cho Huệ Minh và dìu cô đứng dậy. Cả nhóm cám ơn bà cụ rối rít. Huệ Minh ứa nước mắt. Côn pha trò để Diệu Minh vui:
Chân hài cao ngất
Vấp trái nù u
Ngã lăn ra đất
Bàn chân sưng vù
Mệ khóc hu hu…
Cả nhóm cười. Huệ Minh cũng nghiên đầu giấu nụ cười. Giọng nũng nịu:
- Cậu Côn. Cậu mần vè trêu, tui bỏ về nghe.
- Côn muốn mệ cười cho đỡ đau, chứ không có ý đùa cợt đâu.
Huệ Minh nhấc bước chân chầm chậm nói:
- Tui và Hạnh, thỉnh thoảng gia nhân đánh xe đưa đi học. Cậu cũng mần vè chế đó.
- Côn có vè chế mệ đi xe thật à?
Khiêm hỏi Huệ Minh. Nhưng Côn thưa lại với anh ngay:
- Em có làm vè xe ngựa. Nhưng em chế cậu Tuấn, cậu Kỳ, đâu có chủ bụng chế mệ Huệ Minh và Hạnh. Nhưng – Côn ngập ngừng – Bữa đó hai xe cùng đến, mệ nghe Côn đùa với hai cậu, mệ cũng tưởng đùa cả mệ nữa. Côn xin nhận lỗi. Thiệt tình xin lỗi mệ và cả Hạnh nữa.
- Anh sẽ thưa việc ni với cha mẹ.
Huệ Minh hốt hoảng:
- Không….không….cậu Khiêm đừng mần rứa. Đừng thưa thầy và thím. Tui trách vui cậu Côn với nhau ở đây thôi m..à
- Mệ Huệ Minh nói thiệt lòng đó cậu Khiêm. Có chi mà cậu làm phiền lòng thầy thím hề - Kỳ nói.
- Tui cũng nghĩ rứa – Quang nói – Cậu Khiêm không nên thưa thầy thím, cậu Côn vè đùa nhau cho vui ý mà.
- Em đọc lại cho anh nghe vè ứng khẩu bữa đó. Nếu đáng tội phải phạt, em về xin nhận tội trước cha mẹ. Làm sai, nói sai thì em phải sửa chữa.
Khiêm dịu dàng trở lại:
- Em còn thuộc vè thì đọc đi.
Côn đọc rất hồn nhiên:
“Bụng béo, chân teo
Thịt nhão bèo nhèo
Ngồi đâu ngủ đó
Không bằng đi bộ
Xương cứng thịt săn
Tỉnh táo mắt thần
Học mau thuộc chữ”…
Cả nhóm học trò lại cười lên. Huệ Minh e thẹn hơi cúi đầu, cười chúm chím. Khiêm nắm tay giơ lên:
- Vè hay lắm. Hay lắm. Anh tung hô em Côn vạn đại, xóa việc mách với cha mẹ.
Cả nhóm thở phào nhẹ nhõm, và rẽ luôn vào ngõ chú phó Tràng ngay trước mặt. Côn dừng bước nói:
- Mệ, anh Khiêm, cậu Kỳ đợi ngoài ngõ để tôi với Quang vô nhà trước coi chú ấy có nhà không đã nhá.
Côn kéo tay Hồ Quang đi khuất sau hàng cây. Huệ Minh nhìn thơ thẩn phát hiện thấy một tổ chim trên cây bên ngỏ nhà chú phó Tràng, Huệ Minh gọi:
- Cậu Khiêm, cậu Kỳ nì, tổ chim. Tổ chim trên chạng cây ni.
Khiêm ngước nhìn trước, chưa kịp nói thì Kỳ đã trèo lên cây, chân bám vào chạng ngàm, tay níu cành to trên cao. Khiêm nhắc:
- Tay níu vào cây thật chắc nghe. Từ từ đã. Vít cây vào đầu, thật sát mình, nhìn vào tổ thấy rõ chim trong tổ hãy đưa tay bắt nhẹ thôi. Chim non dễ chết lắm.
Kỳ lần bần bàn chân lấn ra giữa cành cây. Cái cành khá to đã sà xuống. Huệ Minh không dám nhìn lên tổ chim nữa.
Tiếng cành cây gãy kêu rắc rắc…Huệ Minh hốt hoảng hai tay bịt mắt. Tổ chim rơi xuống Khiêm vừa nói vừa chạy tới:
- Không khéo chim chết…chim chết…
Kỳ nhảy vội xuống đát chạy vội đến. Khiêm đặt hai con chim non để vào cái lá bàn.
- Chim chết thiệt. Tội nghiệp!
Kỳ đỡ lấy lá bàn đựng hai con chim trên bàn tay Khiêm xuýt xoa. Huệ Minh không dám đến gần. Côn và Quang trong nhà phó Tràng ra, nói to:
- Chú đi làm thợ từ sáng. – Cái chi rứa? – Quang hỏi – Cái chi rứa hai cậu?
- Chim non trong tổ. Chết rồi – Kỳ đáp
Côn ngồi ngay xuống, chau mày:
- Các anh chắc quên bài đã học: “Đình tiền thụ hữu điểu sào?”
- Nhớ chứ - Kỳ nói – Lúc thầy giảng bài đó, thầy chỉ tay ra hàng cây bên ngoài nói: “Ví như cây cao trước nhà kia có tổ chim vừa làm đẹp cho cây, vừa là nơi đất lành chim đậu. Có nhiều chim đến vườn, chim sẽ cho ta tiếng hót và bắt sâu cho cây cối trong vườn”.
- Thầy còn dặn chúng ta: Tổ chim khác nào ngôi nhà của con người. Phá tổ chim cũng như phá một ngôi nhà êm ấm vậy – Huệ Minh nhắc thêm.
Kỳ và Khiêm lấy một đoạn cây, bới lỗ ngay dưới gốc cây có tổ chim, đặt cái lá bang gói hai con chim non xuống, lấp lại.
Côn nhìn lên ngọn cây cao, nhìn xuống gốc cây vừa chon hai con chim non, giọng buồn buồn:
- Lát nữa chim mẹ chim cha bay về không thấy tổ ấm, không thấy con đâu chúng đau khổ lắm, lại kêu khóc thảm thiết!
Trên đường về nhà, năm người học trò bước đi lặng lẽ nặng nề như người có tội!
PHẦN 4
Từ hôm con chuồn chuồn sứ bị Tuấn làm gãy đuôi, Côn chưa bắt được một con chuồn chuồn nào đẹp hơn để gửi cho bé Xển. Mỗi lần Quang đến thăm bé Xển, Côn đều nhắc: “Quang nói với bé Xển, Côn còn nợ một chú chuồn chuồn sứ nhé”.
Bé Xển bị bại liệt hai chân từ lúc lên ba tuổi. Gia đình bé Xển thân với gia đình Hồ Quang. Bố của Quang sống bằng nghề thuyền te. Bố của bé Xển lại là thợ xây có “hoa tay”. Mẹ Quang thường mang cá lên các chợ bán. Mẹ bé Xển bán hàng ở chợ Đông Ba. Hai bà từ chổ mua bán với nhau thành tình thân như ruột thịt.
Hai gia đình cảnh nhà khác nhau, nghề sinh sống cũng khác biệt. Nhưng bố mẹ của hai nhà cùng chung một ước mơ con trai được học hành dăm ba chữ Thánh hiền. Họ đã nghiệm thấy: Đói gạo đói cơm đã nhục nhưng không nhục bằng đói chữ. Hai tiếng “dân ngu” đè nặng lên đầu của những người không có chữ. Dù có bát ăn bát để, dù có lịch lãm việc thiên hạ, biết cư xử phải đạo, hợp tình hợp lý ở đời mà không được cái danh nho sinh thì vẫn là “đồ vô học”.
Bố của Hồ Quang muốn được rời dòng sông lên cạn “cắm dùi” cho con cái đỡ khổ kiếp sống lênh đênh sông nước đã mấy đời rồi. Nhưng không có cái chữ, lại không có đủ tiền để biện lễ biếu khắp các cửa quan, cửa các thầy lý hương... Một người bạn vạn chài có con học được mức “viết chữ hàng tám” chạy vạy được một chân thư lại cho quan huyện. Nhờ vậy cả nhà rời thuyên te lên bờ làm ăn sinh sống. Tuy gia đình bạn ông hiện còn là “dân ngụ cư” nhưng vẫn hơn gấp trăm lần cái kiếp người “sống vô gia cư”, “chết vô địa táng”
Bố bé Xển có nỗi đau riêng về sự mù chữ của mình. Ông đi làm thợ, mỗi lần đắp xong những hàng chữ nổi trên các miếu thờ, các cổng làng, cổng chợ, trùng tu các cửa tam quan, các tháp ở các ngôi đền, ngôi chùa, lăng tẩm ông lại đau lòng!
Đắp được chữ nổi, chữ nhiều bao nhiêu nét ông đều đắp được và rất đẹp, nhưng lại không đọc được. Một câu hát ví ở đâu đó đã lọt vào trí nhớ của ông lúc nào chẳng rõ nữa, thỉnh thoảng nó như mũi bay gí vào tim ông: “Thợ nề đắp chữ đẹp ghê – Mỗi lần cúng bố phải thuê thầy từ”. Ông định bụng xóa nỗi đau mù chữ bằng hy vọng dành dụm để cho con ăn học. Tiếc thay vợ ông đẻ ba lần đều là gái cả. Ông không trọng nam khinh nữ. Cho con gái đi học với một ông thầy đồ ở hàng Bè. Nhưng không đứa con nào chịu học. Chúng sợ hết hồn hết vía vì cả xứ Huế này chẳng thấy ai trong đám dân nghèo có con gái đi học chữ ông Thánh cả, chỉ có nhà vua, nhà quan mới cho con gái đi học, hoặc nuôi thầy học trong nhà dạy riêng cho con cái.
Ngày vợ ông chửa lần thứ tư, ông khấn lễ khắp các chùa, các đền, cầu một con trai. Ông đi tu sửa đền đài, chùa chiền lấy tiền công rất rẻ để Thần Phật phù hộ cho ông. Vợ ông đẻ một con trai mặt sáng như gương, tay chân bụ bẩm. Ông mừng suýt chết ngất. Những tháng ở cữ, ông không cho vợ đụng đến một việc nào trong nhà. Ông làm hết, làm quên cả ăn, cả ngủ. Những hôm đi thợ tận dưới Kim Bôi, dưới phá Tam Giang, ông vẫn lần về không ở lại đêm như trước. Nhưng số phận nghiệt ngã với ông. Trong cái may đến ngay cái rủi: Con trai ông đang chơi đẹp như đóa hoa thì bị một cơn sốt co giật. Ông chạy thầy chạy thuốc không tính đến còn hay hết của trong nhà. Rốt cuộc đứa con vàng ngọc ấy chịu cái tật liệt hai chân! Vợ chồng ông khóc đêm khóc ngày không biết làm cách nào để con có đôi chân cứng cáp để mà đi học, đi làm thợ như ông...
Cái tên bé Xển cả nhà ông gọi từ ngày ấy. Niềm hy vọng nuôi con ăn học vẫn le lói trong lòng ông. Năm bé Xển lên sáu tuổi, ông đi xin học với một thầy đồ. Ông dự tính hàng ngày cõng con đến nhà thầy, hết buổi học lại đến cõng về. Những ngày ông đi làm xa, vợ ông hoặc ba đứa con gái thay phiên nhau cõng bé Xển. Ông đã nói hết mọi nhẽ với thầy mà vẫn không xin được cho con học. Cũng có thầy đồ nhận dạy cho Xển, nhưng lại ở tận Tiên Nộn, hàng ngày cõng đi cõng về không thể được. Gửi trọ học thì phải một chị gái của Xển đi theo nuôi em, tốn kém quá không có tiền gạo chu cấp cho đủ được. Giá ông khá giả một chút có đôi ba gian nhà thì ông sẽ rước thầy về dạy cho con và rủ dăm ba nhà cho con đến học, đóng “đồng môn” nuôi thầy... Càng suy nghĩ ông càng thấy tuyệt vọng.
Hồ Quang đã kể tất cả tình cảnh của nhà bé Xển cho Côn nghe. Côn theo Hồ Quang đến chơi nhà bé Xển. Thấy Xển khôi ngô, hai mắt sáng và to, môi đỏ như môi con gái, ăn nói lễ phép Côn mến ngay. Thấy Xển không đứng lên được, phải bò hoặc lết bằng hai bàn tay chống xuống nền nhà, Côn nao nao lòng không dám nhìn kỹ. Côn thầm nghĩ: Giá mình là Xển liệu có giữ được mặt mũi, áo quần sạch sẽ như Xển? Liệu có khác tính khác nết đi không?
Côn liền nói với Quang:
- Anh mời bố của Xển ra cho mình gặp tí.
Bố của Xển trạc gần bốn mươi, nhưng tóc đã lốm đốm bạc. Ông chắp tay trước ngực định nói thì Côn chạy tới xòe hai bàn tay nhỏ của mình ôm lấy bàn tay chai sạn, ngón tay to như trái chuối của ông Xển.
- Thưa bác, cháu là con cháu, bác đừng ....xin bác đừng....Cháu là bạn của Quang, của Xển...
- Không dám thưa cậu ấm.
- Ấy chết! Bác đừng thưa gửi cháu!
- Tui được biết cậu là con trai thứ của thầy cử Nghệ. Chừ tui mới biết là vì tui đi làm ăn kiếm sống từ lúc sương mai cho đến khi sương hôm mới về. Bé Xển của tôi nó khoe được cậu Côn đến cho nó đồ chơi, cho quà và vẽ hình người, vẽ hình lâu dài, hình núi, hình voi, ngựa, cá, chim cho nó. Cậu bắt được con chuồn chuồn sứ, con bươm bướm hoa cậu cũng gửi cho nó. Từ ngày có cậu và cháu Quang đến với nó, nó không thấy cô đơn què quặt là mấy nữa. Tui đi vắng đã đành, bà nhà tui cũng ở chợ từ mới sớm cho đến lúc gần đóng cửa thành mới về nên chưa gặp được cậu để đa tạ lòng nhân đức của cậu....
- Bác ơi! Cháu có giúp được chi cho Xển đâu hở bác!.. Cháu!...
- Tui nói thiệt đó. Chỉ thấy việc cậu là con nhà khoa bảng, con nhà thầy, nhà quan mà đến nhà tui, phận bần hàn ni là rồng đến nhà tôm....
- Chết ….chết….bác ơi!...Côn cười – Các bạn cháu biểu cháu cầm tinh con mèo. Mà bác lại nhận bác là tôm thì…Côn bật cười. Ông Xển cũng phì cười, bé Xển ngồi gần Quang cũng cười rộ lên, xóa hẳn cái không khí già cỗi. Côn nói rõ ý định của mình:
- Cháu được nghe Quang kể về tình cảnh nhà bác, lại thấy Xển sáng dạ, ước ao được học chữ. Được biết bữa nay bác ở nhà, cháu sang gặp bác, cháu sẽ bày cho Xển học, cháu học được tới đâu cháu bày lại cho xển tới đó.
- Ôi! Thánh ….thần…Ông Xển đứng phắt dậy, hai tay chắp búp sen trước ngực – Tui lạy cậu mớ…bái…
- Trời ơi! Bác! Cháu….cháu sợ quá! Sao bác lại…- Côn giữ tay ông Xển
Giọng ông xúc động buông từng lời bồng bềnh:
- Bụng tui như cái bánh gói thì tui bóc ra để cậu thấy rõ, tui đi khắp cửa chùa, cửa đền ở cái xứ ni, cầu Phật xin các thánh thần phù hộ cho con trai tui thoát kiếp tàn tật. Nhưng thánh thần đều ngoảnh mặt cả. Đành…con tui đành chịu tàn tật thân xác, tui còn một ước mơ nho nhỏ là con tui có được dăm ba chữ Thánh hiền thì cũng gọi là người sáng mắt, đở tủi cái phận què chân. Tui đi lạy các thầy đồ quanh đây, nỏ thầy mô nhận dạy chữ cho nó cả. Chừ! Chừ đây cậu tự đến, đem chữ đến chia sớt cho con trai tui!... – Ông khóc nghẹn – Rứa là nhà tui có phúc được Thánh thần xui khiến cậu đến nhà ban phúc cho…
Côn lại bối rối:
- Bác… ơi… cháu xin bác đừng gọi cháu bất kể một thứ danh hiệu nào khác với cái tên cha mẹ cháu đã đặt cho. Cha cháu hồi bé mồ côi ham học, cũng được ông ngoại cháu đón về nuôi dạy cho đến ngày đậu cử nhân. Đến lượt cháu chia chữ cho Xển là việc bình thường bác ơi. Cha mẹ cháu thường nói: “Ăn quả phải biết gieo hạt ” bác ạ.
Ông đứng ngẩn người ngắm Nguyễn Sinh Côn với con mắt đã từng ngắm những hàng chữ nổi do bàn tay ông tạo nên với lòng thành kính – “Lời của Thánh hiền dạy”. Tiếng nói của ông oang oang bổng trầm hẳn xuống:
- Cậu đã nói vậy là thể tình với tui. Tui và cả nhà tui biết ơn cậu lắm lắm
Côn nói ngay vào việc:
- Bác sắm giấy, bút, mực để cháu bày cho Xển học sớm bác ạ
Hai mắt ông bừng sáng cười khà khà:
- Thưa cậu, có đủ cả rồi. Tui sắm cho nó từ hồi năm ngoái đâu dè xin học không nổi
Ông chạy vào buồng bê ra một chồng vở giấy bản tốt, bút lông thỏ, thoi mực, nghiên sành…
- Tui mua cho nó đủ ba loại bút, cả ống đựng bút, mua cả tờ nòng kẻ để nó tập viết thẳng hàng. Đây nữa, tui nhờ mua bộ “Nhất Tự Kinh”, “Tam Tự Kinh”, “Ngũ Tự Kinh”. Tui làm thợ trong các nhà quan, các nhà hào phú, để ý việc con cháu học học, tui về sắm cho bé Xển đủ những thứ con cháu họ, chứ kém chi cậu!...
- Được giấy này, bút này, mực này chỉ cần sáng dạ và ham mê học thì nhất định Xển của bác sẽ có chữ trong mắt như hai bác ước mơ. Giờ bác đi nghỉ hay làm việc của bác kẻo mất công việc của bác. Cháu và Quang giúp ngay việc học cho Xển.
- Ố…ố..Cậu dạy ngay chữ cho nó à! Cậu cho tui được nhìn con tui đón nhận vô mắt cái chữ đầu tiên của Thánh hiền.
- Dạ, vậy mời bác ngồi đợi cháu và Quang mài mực đã ạ.
- Không. Để tui. Phần tui được mài mực. Cậu ngồi nghỉ. Cậu là người thầy học đầu tiên của con tui, tức thị là thầy học của gia đình tui…
Côn chưa kịp nói với ông thì ông cầm thỏi mực và cái nghiên chạy vội vào phía trong lấy nước lã để mài. Hồ Quang cũng đang mài son thử bút.
Côn và Quang giúp cho bé Xển ngồi vào ghế, hai cái chân teo để thỏng xuống lúc la lúc lắc như cái dây thừng. Côn nói:
- Chân Xển yếu không thể xếp bằng trên phản được, cũng không thể ngồi nghế, tựa bàn mà học, mà viết ít bị mỏi. Ở nhà Côn cũng ngồi ghế tựa bàn, không ngồi lom khom như các nho sinh khác.
- Anh lót thêm hộ cái áo cha em vì mông em nỏ có thịt, ngồi lên đau lắm anh ạ. – Xển nói với Quang
Quang với lấy cái áo treo trên móc gấp lại, lót cho Xển ngồi thử. Côn nói:
- Xển ngồi tạm ít hôm nhé, Côn về xin mẹ Côn mấy miếng vải đầu tấm dệt bị lỗi cắt ra, sẽ can lại may thành cái gối lót cho Xển ngồi học
Bé Xển ngồi ngay ngắn, hai tay đặt trên bàn, mặt bồi hồi sung sướng như lúc được mẹ về chợ cho quà, vuốt ve âu yếm. Côn ngồi bên cạnh, để cuốn vở giấy trắng tinh trước mặt bé Xển. Ông Xển và Quang đưa nghiên mực mài và bút lông thỏ lên, đặt ở bên. Côn đỡ lấy bút, nói với bé Xển những lời ân cần:
- Hôm nay là buổi học khai bút, khai tâm đầu tiên cho Xển. Côn viết vào vở tập “bộ nét” để Xển tập viết và nhớ thật kỹ từng nét thì sau này mới biết được chữ. Còn khai tâm, Côn viết cho Xển bài học đầu tiên bằng năm chữ, mỗi chữ từ hai đến bốn nét dễ nhớ.
Mắt bé Xến, mắt ông Xển và cả Hồ Quang nữa như hút theo ngọn bút của Côn đưa trên mặt tờ giấy trắng tinh khôi. Côn vừa viết vừa xướng lên cho Xển đọc theo: “Nét châm…nét ngang..nét ngang dài; nét ngang ngắn; nét sổ…nét sổ thẳng; nét sổ có gạch dưới bên tả, nét sổ có gạch dưới bên hữu;…Nét phẩy xuống…nét phẩy hất lên,…nét phẩy khép,…nét mác,…khung;…; nét móc…”
Côn viết tiếp vào vở học cho Xển
- Xển chú ý cách viết của năm chữ khai tâm đây – Côn đọc lên. – Nhân: bốn nét, gọi là nhân đứng () ghép với chữ nhị (). Nhân: hai nét; Hựu: hai nét; Đại: ba nét; Nhân: Xển chú ý chữ nhântrước viết khác và nghĩa cũng khác hai chữ nhânđứng sau.
Côn đọc lại:
- Nhân nhân hựu đại nhân
Bé Xển đọc theo. Và Côn bịt chữ trước hỏi chữ sau lại bịt cả năm chữ hỏi một chữ. Bé Xển nhớ ngay mặt chữ. Côn giảng nghĩa từng chữ và Côn dặn thêm:
- Chữ nhânbốn nét là lòng thương người chứ không phảinhân là người viết hai nét.
Đột nhiên Côn quay sang ông Xển:
- Thưa bác, bác nên đặt cho Xển một cái tên khác, đừng gọi bằng Xển nghe tủi thân lắm.
Ông Xển thở dài:
- Cậu chu đáo quá. Cậu đã thương em nó rứa là tận nguồn đến ngọn rồi. Quả thiệt tui đã đặt tên cho nó là Văn. Tui họ Bùi, lót Hải. Tức thị: Bùi Hải Văn. Đặt tên như rứa là cái bụng của tui ước ao lớn lên nó sẽ được tắm trong cái bể học, bể hiểu biết để làm người cậu ạ.
- Bác đặt tên cho Xển vừa đẹp vừa có ý nghĩa hay. Bác ơi, từ nay không gọi cái tên tủi thân ấy mà gọi Văn đúng cái tên lót ổ ạ.
Bé Văn cười sung sướng, má đỏ hay. Ông bố cũng phấn chấn ôm chầm lấy nó nâng bổng lên chạy tang tang khắp nhà….
PHẦN 5
Côn hý hoáy chọn những mãnh vải đầu thừa đuôi thẹo của mẹ cắt xén từ trong các tấm vải dệt xong. Côn đã xin phép mẹ khâu cho bé Văn một cái lót ghế ngồi. Côn mô tả với mẹ về tình trạng tàn tật của nó. Chị cử Sắc đưa cả bọc vụn vải cho Côn lựa chọn và chị hứa sẽ khâu gối cho nó. Nhưng Côn chưa dám thổ lộ với mẹ việc Côn dạy chữ cho nó học. Côn muốn im lặng, khi nào nó học kha khá sẽ thưa với cha mẹ. Côn dặn kỹ Quang và cả Khiêm, Tuấn nữa giữ kín, coi như cả nhóm cùng giúp đỡ cho bé Văn học được kết quả.
Khiêm đi chợ về, ngồi sà xuống bên Côn kể một thôi dài:
- …Em biết không. Anh mần theo lời mẹ dặn, anh em mình khi ra chợ mua món chi, con trai không quen giá cả thì đợi các bà các chị người ta mua xong, nhờ mua giúp cho luôn thì nỏ bị hớ. Anh đang đứng trước hàng tôm đợi có người mua để nhờ, mẹ của Quang ngồi bán cá nhìn ra anh. Bà gọi, mời anh rối rít:
- Ôi! Anh có nói đi mua cá tôm chi không? – Côn hỏi Khiêm vẻ lo ngại - Em coi anh như người khờ ấy! Này nhá: Quang là học trò của cha, anh với em chơi thân với Quang. Anh gặp mẹ Quang đang ngồi bán cá thì có khác chi bọn thuế, bọn lính cẩm đến nhà bán hàng gợi ý: nhà chúng sắp có giỗ hoặc bảo ở nhà có người ốm chưa có chi ăn!
Côn cười giòn:
- Em cứ lo anh buột miệng nói mẹ sai anh ra chợ mua thức ăn thì khó xử lắm đó.
- Anh chỉ mới nói mẹ đi chợ Nam Phổ bán vải và mua sợi. Rứa là bà ấy định lấy lạt xâu cá cho anh mang về. Anh phải giữ lấy tay bà. Nhưng bà cứ biểu: “Thím đi chợ Nam Phổ ngái lắm, lại cách đò cách giang phải gần tối mới về được….Cậu đưa cá về nấu cho thầy ăn. Tui biết thím đi vắng tui đã sai thằng Quang đem cá lên cậu rồi”. Anh vẫn nằng nặc không nhận và đành phải nói dối với bà là đã ăn cơm rồi để cha đến Giám.
- Cha đi đến nhà quan đốc Đặng gặp chú Tú San chứ anh?
- Thì đã biểu bí quá anh phải nói dối cho qua m..à…
- Rồi anh có mua được tôm không?
- Có, anh nói với bà là con mèo ốm, chỉ ăn tôm, nó nỏ ăn cá, ăn mỡ chi cả.
- Anh lại phải nói dối vậy nữa?
- Anh có mua tôm thiệt chứ? Chỉ nói tránh mua cho mèo thì nỏ hết mấy để bà khỏi ép nhận cá biếu của bà. Nhưng vui nhất là chuyện các bà bạn hàng của bà Quang nhìn chăm chú rồi khen với nhau: Nhà ai có được người con đẹp như trong tranh? Anh ngượng chín cả mặt muốn chạy liền thì bà Quang cứ giữ lại khoe ríu rít: “Con thầy Sắc đó. Bé Quang nhà tui được thầy cử thương tình cho vào học trường của thầy. Thầy rất đẹp. Thím rất đẹp. Cho nên con cũng rất đẹp. Cậu cả đây đẹp nhưng so với cậu em lại chưa thấm thía mô”. Bà lại còn kể về em tỉ mỉ như người tạc tượng. “Cậu ấy là người thanh mảnh, mười ngón tay thon dài như mười búp măng, da trắng như trứng gà bóc, mặt vuông tượng, hai con mắt sáng như hai ông sao, lông mày dài hơn mắt, đúng là mày ngài mắt phượng, trán trượng phu. Môi lại đỏ chon chót như nhuộm phẩm điều, mũi cao thon thon, nhưng không nhọn, không quắm như mũi đám Tây đoan mô…”
Côn chạy vào giường mẹ cầm ra chiếc gương con gà, vừa soi vừa hỏi Khiêm:
- Mặt em có như bà Quang nói không anh?
- Chứ còn chi nữa! Ngày ở nhà quê bà ngoại mình cũng biểu em đẹp giống bà nội. Sáng dạ như bà nội. Bà nội hồi còn con gái được học chữ với thầy Hồ Sỹ Tạo ngồi dạy ngay trong nhà. Bà ngoại còn biểu: “Cha rất giống bà nội, ít giống ông nội, cho nên dạ cha sáng như đèn. Còn bác Nguyễn Snh Thuyết thì tối dạ. Bác học năm năm mà không nhớ được đủ chữ để đọc các tờ văn cúng ngày giỗ, tết. Bà nhủ: Bác Thuyết rất thương cha mình nhưng bác sợ bác gái một phép”
Côn vừa cười vừa nói vui:
- Bác trai nể bác gái mà ngỡ bác sợ vợ đó
Tôn Thất Tuấn gọi to từ trước ngõ chạy vội vào:
- Đắm đò…đắm đò ngoài bến Tràng Tiền…Cậu Khiêm….cậu Côn ơi…
Côn vứt vội mảnh vụn xuống đất, đứng phắt dậy. Khiêm cũng tái mét mặt, nhưng bình tĩnh hơn. Côn giục:
- Chạy ra coi…. m…ẹ có về chuyến đò này không?
- Thím cử đi mô mà phải sang đò? – Tuấn hỏi.
- Mẹ tôi đi chợ Nam Phổ!
- Ta chạy ra…đi!
Khiêm giục và cả ba cậu học trò chạy một mạch ra bến đò Tràng Tiền
Bến sông trước cửa Nhà Tiền người đứng như nêm cửi, Khiêm đi ra trước lách lối cho Côn và Tuấn chen vào theo. Ai cũng muốn vào sát bến sông để tìm xem người nhà mình có trong chuyến đò bị đắm này không. Khiêm, Côn, Tuấn cứ đứng túm lấy gấu áo của nhau mà chen vào. Cả ba cái đầu trẻ nít mướt mồ hôi mới lần bước được vào được trong bến. Côn lo cho mẹ cháy ruột cháy gan mà vẫn nói pha trò được:
- Anh em mình nhỏ đầu nên dễ chui, hai anh nhể?
Tuấn “ừ” với Côn. Khiêm nhắc Côn:
- Nín lặng nghe coi họ đang nói chi ở dưới bến nước!
- …. Cứu cấp!... Cứu cấp!...người còn nóng…Còn nóng….vác ngược chân nạn nhân len mà chạy cho nước trong bụng ộc ra….
Có cả những tiếng nói cuả người già:
- ….Thổi…thổi chuyền hơi vô miệng nữa…
Côn chạy vượt thẳng đến nơi đang có tiếng người kêu cứu. Khiêm, Tuấn cũng bám sát được Côn. Ba cặp mắt thơ ngây bỗng lạc thần, mặt không còn sắc máu khi nhìn chằm chằm vào mấy người phụ nữ đã nhợt nhạt nằm như ngủ trên tấm liếp trải. Những nạn nhân được vớt lên ngay đang được nhiều người xúm lại dìu vào các nhà gần nhất. Một số nạn nhân còn thoi thóp thì đang được cấp cứu tại chỗ. Hai anh em Côn và Tuấn lần lượt nhìn kỹ từng người… Tiếng khóc của những người thân các nạn nhân nhức nhối lòng người vọng dài theo dòng sông. Tuy chưa gặp mẹ ở đây, Côn nhìn cảnh chết choc nước mắt trào ra. Khiêm và Tuấn cũng không cầm được lệ.
Có tiếng gọi:
- Cậu Côn…ơi, cậu Côn!...
Côn nhìn sang bên kia đám người, thấy bố bé Xển Văn, Côn gọi:
- Anh Khiêm, cậu Tuấn bác Văn gọi ta.
Ông Xển Văn lướt đến rất mau, đứng ngay trước mặt ba cậu nho sinh
- Ồ! Cả cậu Tuấn có ở đây nữa. Tui với chú phó Tràng cùng xuống bên trong chuyến đò ni. Nhưng tụi tui lên một đò thì không hề chi, còn một đò thì đắm. Tui với chú phó Tràng ra về có gặp bà cử đang ở chợ. Bà cử nỏ có trong chuyến đò ni mô.
Ba cặp mắt thỏ con đang hốt hoảng đã dịu hẳn lại. Nhưng cả ba cậu bé nho sinh mừng như mở cờ trong bụng mà không ai thốt ra lời. Tiếng mấy đứa em nhỏ mất mẹ, những người lớn mất người thân ruột thịt đang khóc ai oán bên sông Hương.
Côn tin ngay lời ông Xển Văn. Nhưng Khiêm thì vẫn hỏi thêm:
- Bác nhìn đúng mẹ cháu còn ở chợ, hả bác?
- Tui với chú phó Tràng còn chào bà cử rồi mới đi ra cổng chợ, mà cậu
- Chú phó Tràng về rồi hả bác? – Tuấn hỏi.
- Chú…chú kia đằng kia – ông chỉ tay về một đám đông đang cứu người bị nạn. Chú lại hung (khỏe) lắm. Một mình chú nớ vớt được sáu người lên bờ đó.
- Bác ơi – Côn nói – chúng cháu đến chỗ chú phó Tràng đây.
- Thôi – giọng ông buồn trĩu xuống – Các cậu đi về nhà được rùi. Mọi người đang về cả đó. Chết mất bốn người. Còn lại thì cứu sống được cả.
- Dạ, chúng cháu ở đây đợi mẹ cháu một thể bác ạ - Khiêm nói
- Rứa thì…thì các cậu lên cửa Nhà Tiền mà đợi, đừng đứng chỗ ni ồn ào nhức đầu. Tui phải về kẻo bé Xển…à à….quên….các cậu thứ lỗi cho tui cứ quen mồm gọi con cái tên khổ sở của nó! Thôi tui về kẻo bé Văn nó nghe tin đắm đò nó lo…
- Cháu chào bác ạ, bác nhắc Văn nó chép cho xong để mai cháu đến lấy quyển về nhé – Côn dặn với theo sau tiếng chào của Tuấn, Khiêm. Ông Xển Văn chắp tay xá xá rồi bước đi.
***
Khiêm đi trước, đi theo sau là Côn, Tuấn lên tới con đường đá, Tuấn nói:
- Biết chắc thím không về trong chuyến đò đắm. Yên cái bụng rồi. Hai cậu ở lại đợi thím, mình về nghe. Mình nghe tin đắm đò, chạy ngay ra báo với hai cậu, nỏ kịp xin phép mẹ.
Côn giục Tuấn:
- Cậu Tuấn về kẻo bác lo chẳng rõ đi đâu.
- Tụi mình cảm tạ cậu Tuấn nhá.
- Trời ơi! Cậu Khiêm lại đi cảm tạ tôi chuyện ni hỉ!
Khiêm cười trừ. Tuấn phát vào vai Khiêm một cái rồi chạy vù trên con đường nắng xiên khoai
Côn nhìn theo Tôn Thất Tuấn đang xa dần trong bóng ô; bóng nón nhấp nhô trên con đường nói với anh:
- Em đói bụng lắm anh ạ.
- Anh cũng thấy đói cồn cáo từ nãy. Giá nỏ có chuyện đắm đò thì ăn cơm xong anh em mình đi đón mẹ là vừa.
- Em thương con mèo cũng bị đói quá bữa như anh em mình.
- Người chưa được no lại còn lo cho mèo đói!
- Người có óc nghĩ, đói bụng thì nghĩ sang chuyện khác quên được đói. Con mèo nó chả biết nghĩ nên bụng đói thì mồm kêu meo meo, càng kêu càng đói chứ anh?
- Em về mà hỏi mèo ấy. Anh mô phải con mèo mà hỏi anh.
Côn thấy anh nói dỗi, mặt tiu nghỉu
Đứng yên giây lát, Côn lại hỏi anh giọng buồn buồn:
- Bốn người chết đắm đò, em thấy thương quá, tội nhất là mấy đứa nhỏ lên hai lên ba mà đã mồ côi cha mẹ. Em thấy hai đứa cứ trườn ra khỏi tay vế đòi xuống với mẹ. Chúng nó chưa biết mẹ đã chết nằm đó
- Ừ, anh nỏ dám nhìn. Thương lắm. Chúng sẽ phải chịu phận: “mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ vét lá đầu đường”.
- Câu ấy em cũng đã nghe bà ngoại, cả mẹ nữa thường nói. Nghĩa của câu ca dao ấy là sao hả anh?
- Là…là mẹ chết, bố còn trẻ không thể ở vậy nuôi con được, phải lấy người vợ khác. Người vợ mới của bố sẽ là mẹ ghẻ của con. Đã là mẹ ghẻ thì ghét con chồng, đày đọa con chồng. Khổ quá, không ở được với mẹ ghẻ, con phải ra đứng đường vét lá bánh lá gói của người ta vứt ra…Cũng như câu: “bao giờ bánh đúc có xương, bao giờ mẹ ghẻ lại thương con chồng!”
Côn im lặng. Nhìn đăm đăm ra dòng sông Hương loang loáng nắng chiều.
- Vậy ra – Côn hỏi anh – Bố chết trẻ, mẹ đi lấy chồng khác thì con không khổ hả anh
- Ít khổ hơn.
- Sao em lại nghe cha nói: “Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha thác gót con đen sì”
- Anh chưa hiểu hết cái nghĩa của câu ấy. Anh cứ cho là, cha chết con ở với mẹ vẫn sướng hơn mẹ chêt. Vì dầu mẹ có đi lấy chồng khác thì người bố dượng bao giờ cũng rộng bụng hơn là người dì ghẻ.
- Hứ…chưa chắc đâu anh ạ. Anh đã quên rồi à? Chú đội khố vàng ở bên cạnh nhà mình chết vợ lấy cô bán chè gánh. Cô ấy góa chồng, có một đứa con gái với chồng trước. Vài ngày chú đội lại đánh cô ấy một trận, đánh cả đứa con gái nữa. Hôm kia chú đội đánh đuổi cả con gái. Nó phải về bên bà nội của nó.! Cô ấy dắt con gái vừa đi vừa khóc. Mẹ mình biếu mẹ con cô ấy ba quan tiên với mười vuông vải mộc đó.
Côn ngẫm nghĩ để hỏi anh thêm. Nhưng Khiêm vẻ khó chịu:
- Em hay hỏi. Cái chi cũng đặt thành việc để hỏi…Trả lời với em không đầy đủ thì em lại hỏi vặn. Mệt đầu lắm. Anh nỏ nói chuyện với em nữa mô.
Côn vẫn dịu dàng với anh:
- Không biết em mới hỏi. Đã hỏi thì hỏi đến nơi đến chốn, chứ anh. Vả lại, đang lúc đói bụng nói chuyện cho quên đói, chẳng lẽ em cứ kêu đói bụng…đói...bụng như con mèo kêu meo meo à?
- Anh đã nhủ: Nói chuyện với em mệt đầu mệt óc mà càng nói càng thêm đói bụng
Khiêm toan bỏ đi ra xa thì Côn đã nhìn thấy hai ba chiếc đò cập bến:
- Ta xuống đón mẹ anh ơi!
Khiêm hớn hở ngay:
- Ồ. Có khi mẹ về chuyến đò ni em à.
Hai anh em vội chạy xuống bến đò.
Nắng vắt lên vương thành như tấm vóc. Mặt sông Hương phơn phớt tím. Những dãy nhà Tây ngạo nghễ dưới bóng cờ ba sắc kêu mạn giữa cảnh trí Hương Bình. Gió hiu hiu mây vờn vờn trôi, trời lẳng lặng u hoài!
Chị cử Sắc lên bờ, bước chầm chậm, hai đầu gánh nhún nhảy theo nhịp chân. Chị nhìn quanh bến sông vẻ mặt buồn, thầm nghĩ về số phận của những người bị đắm đò chuyến trước! Chị thở dài. Gió bay nhè nhẹ cái nón quai thao hơi trùng triềng. Chị nghiên mái nón về tây. Bước vội. Sợi dây xà tích bạc, dây lưng xanh lượn uyển chuyển quanh ống quần lụa thâm. Chị vào đất kinh đô đã hơn hai năm mà vẫn còn ngường ngượng về cái quần hai ống mặc trong người. Ở Nghệ An quê chị chưa có một người con gái nào dám mặc quần, tất cả đều mặc váy. Nhiều bà, nhiều chị quanh năm chỉ mặc váy vành cối xay xắn quai cổng, không dám mặc váy dựng đứng thành theo chiều dọc của vải của lụa. Vì việc đèn sách của chồng của các con, chị phải thay đổi một phần nếp ăn mặc của mình mà cũng là của quê cha đất tổ. Song chị cũng nhận ra mặc quần tiện lợi, gọn gàng hơn. Nhiều bạn gái nhận xét chị mặc quần còn duyên dáng vẻ trẻ ra nữa.
- Mẹ! mẹ!
Chị cử Sắc nhận ra các con cùng lúc các con nhận ra chị và chúng đã gọi mẹ trước. Côn ríu rít một bên tay mẹ. Khiêm bịn rịn đằng sau mẹ.
- Nghe đắm đò chúng con hoảng quá vội chạy ra bến tìm mẹ - Khiêm nói – Côn tiếp lời anh:
- Nhờ có cậu Tuấn chậy đến nhà báo tin cho chúng con, mẹ ạ.
- Cậu Tuấn tốt bụng quá. Các con đợi mẹ từ lúc nớ à?
- Dà ạ - Khiêm đáp…
- Các con ăn cơm trưa rồi mới ra đón mẹ chứ?
- Chẳng kịp ăn mẹ ạ - Côn trả lời gọn lỏn
- Các con ăn uống trể nãi rứa, mẹ nỏ vui mô…cha các con chưa về à?
- Cha vẫn chưa về mẹ ạ - Khiêm đáp
Ba mẹ con chị cử Sắc bước vội trên con đường nghiên nghiên nắng chiều.
Anh cử Sắc như từ trong nắng chiều hiện ra. Anh đi sải dài bước về phía Nhà Tiền. Côn nhận ra dáng cha đang đi…
- Ồ! Cha! Cha đi đón, mẹ ơi!
Côn chạy về phía cha. Khiêm cũng bước nhanh vượt lên trước mẹ:
- Con đoán cha về nhà nghe tin đắm đò thế nào cũng ra bến tìm mẹ. Y như rằng:
- Giá các con về trước để cha khỏi phải mất công đi ra bến nữa.
Anh Sắc sập cái ô xuống:
- Tôi về nghe hàng xóm nói, biết là nhà không có trong chuyến đò đắm. Nhưng không thấy bé Khiêm, bé Côn ở nhà tôi lại băn khoăn…
- Đã biết không có chuyện dữ, nhà còn đi ra bến. Quá cẩn thận – Chị Sắc nói
Côn nói như than thở với cha mẹ:
- Con thấy mấy người bị nạn, bụng căng tròn nước sông. Chú phó Tràng cùng với những ông lực lưỡng vác ngược thân họ chạy lúp xúp vòng quanh, nước trong mồm người bị nạn chạy ra ộc ộc…
Anh cử Sắc thở dài:
- Người ta nói đắm đò mới lo bắc cầu. Đằng này, chưa biết bao giờ mới có được cái cầu qua khúc sông giữa chốn kinh đô?
Chị cử Sắc hỏi chồng:
- Nhà đến đằng quan đốc Đặng có gặp được anh nho San (Phan Bội Châu) không?
- Có. Anh nho sửa soạn đến thì tôi đến - Giỗ cha sắp tới. Nhà có mời anh nho không?
- Có chứ. Anh nho còn nhắc anh: “Sắp đến giỗ thầy Hoàng Xuân Đường rồi”. Tôi muốn mời cả anh đốc Đặng. Nhưng ngày đó anh đốc lại bận đi hành hạt ra mấy phủ huyện phía ngoài giáp Quảng Trị.
- Khoa thi vừa rồi anh nho có…- Chị cử Sắc đang lưỡng lự thì anh cử Sắc thở dài đáp
- Anh nho thi Hương kỳ mới rồi bị cái án “Hòa hiệp văn tự, chung thân bất đắc ứng thí”.
Chị cử Sắc lặng người. Chân mỏi rũ, vai nặng trĩu, bước từng bước uể oải. Vợ chồng anh cử Sắc và cả hai con im lặng đi về tận nhà!
PHẦN 6
Từ ngày vào kinh đô Huế ở, lần đầu tiên cậu bé Nguyễn Sinh Côn thấy cha mẹ làm mâm cỗ khá to cúng giỗ ông ngoại. Buổi tối ngồi học bài, Côn nghe lõm bõm cha mẹ bàn bạc.
- Mình nhớ công ơn cha từ nghĩa cả: Sinh thành và dưỡng dục. Với tôi, cha là người nuôi dưỡng, người tạo dựng cơ đồ cho, người thầy học dạy tôi từ lúc còn bập bẹ cho đến ngày tôi đứng vào hàng liều chõng.
Côn cảm thấy vui vui nghe mẹ cười nói với cha:
- Nhà lại phạm vào cái sách “Trọng nam khinh nữ”. Tôi là học trò của cha mà nhà lại chỉ nhận riêng cho mình được nhớ ơn nghĩa thầy là cái lý chi?
- Ờ nhỉ! Xin lỗi mình nhá. Mình là học trò của cha cho đến ngày có mang bé Thanh mới xếp bút nghiên. Vậy mà tôi đinh ninh chỉ có riêng tôi là thờ nhạc phụ với nghĩa thờ thầy nữa.
- Đàn bà…là đàn bà, dẫu giỏi chữ mấy vẫn là phận đàn bà. Ở quê mình biết bao bà mẹ giỏi chữ, có công dạy cho con học từ sách “Đồng Ấu Ngũ ngôn thi” cho tới Tứ thư rồi mới đi học tiếp với các thầy khác. Nhưng chẳng ai nhắc đến công người mẹ dạy chữ mà có nhắc thì cũng chỉ nhắc lấy lệ như sách Chinh Phụ Ngâm: “Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”. Rất may cho bà Đoàn Thị Điểm dịch sách của Đặng Trần Côn, bà Huyện Thanh Quan có thơ đèo Ngang, bà Hồ Xuân Hương có thơ nhạo đời mới biết các bà là những đàn bà biết chữ, đàn bà có học!....
Anh cử Sắc vừa cười vừa nói:
- Chà! Mình bữa nay “luận tội” sự bất công ở đời khiến tôi cũng chột dạ đó.
Chị cử Sắc cười tủm tỉm. Rồi chị bàn bạc cụ thể với chồng việc cúng giỗ cha ngày mai
Côn đến trước mặt cha mẹ khoanh tay:
- Thưa cha mẹ con đã học xong bài.
Anh cử Sắc gật đầu nói:
- Cha mẹ cho phép con được đi ngủ.
Khiêm vẫn ngồi học cho tới lúc cha mẹ bàn xong việc giỗ chạp mới thuộc hết bài
***
Vừa tảng sáng chú phó Tràng đã oang oang từ ngoài ngõ vào sân nhà:
- Em cứ ngỡ đến sớm ri bác cử chưa dậy. Té ra em lại là người “trời sáng tưởng trăng mai”
- Mẹ con tôi cũng vừa mới dậy, chưa mần chi mô, chú ạ – Chị cử Sắc đáp
- Bác đã có nước sôi chưa để em cắt tiết gà?
- Chưa chú ạ. Chú lên nhà uống trà với nhà tôi đã
Anh cử Sắc ở nhà trên nói vọng ra:
- Mời chú vô đây uống trà nóng.
- Em tạ thầy cử - phó Tràng vừa sải mấy bước chân đã thấy bé Côn từ trong nhà chạy ra đon đả:
- Cha cháu mời chú vô uống nước. Mời chú vô nhà đi…Cha cháu đang đợi chú…
Vì tối qua học bài khuya nên Khiêm còn ngái ngủ đã chạy vội xuống bếp với mẹ.
Anh cả Sắc rót ba chén nước. Anh đưa cho Côn một chén:
- Con bưng xuống mời mẹ - Anh bưng tiếp chén nước thứ hai mời phó Tràng – Chú uống trà ạ.
- Thưa thầy cử - phó Tràng đón chén trà trên tay anh cử Sắc – Đời thợ của em ăn cơm uống nước từ trong cung cấm ra tới chủ tiệm tạp hóa chợ Đông Ba. Tay thợ em đóng ngai vàng, đóng ngăn, đóng hộp cho bảng xén, đóng cả cái ghế cho bà bán nước chè tươi ở quán bên đường. Nhưng em vẫn như một con chim bay sắp rã cánh mà chưa tìm được đất lành để đậu. Lòng người bạc lắm. Sự đời lắt léo quá. Đường đời hiểm hóc và chông gai không một ai lường hết được - Chú uống nước kẻo nguội – Anh cử Sắc mời, phó Tràng nhấp từng ngụm nhỏ như uống rượu. Anh vẫn giữ cái chén tỏng lòng bàn tay. Anh cử Sắc nâng cái ấm sành lên, phó Tràng liền chìa chiếc chén màu da lươn đón dòng nước tỏa hương chè sen thơm ngon.
Phó Tràng nhấp trà, nói một giọng tầm trầm khác hẳn thường ngày:
- Tui nói ra có điều gì sai, xin thầy xá quở cho.
- Đâu dắm. Chú cứ tự nhiên – Anh cử Sắc đỡ lời.
- Từ ngày gia đình thầy cử vô đây, tui được làm người láng giềng, chạy đi chạy lại với ông bà, với hai cậu nho, chừ lại được phép gọi các cậu là cháu, thân mật hiếm có lắm. Hiếm có thiệt tình. Có người biểu với tui: Thầy cử là người Nghệ nên nhiều chữ và giàu nhân đức. Tui biết: ở trong triều hiện còn có một ông cử nhân nữa người Nghệ lên đến chức Phụ chánh đại thần. Duyện Mậu quận công, suýt nữa là được phó vương tấn ở Bắc Kỳ do có công trung thành với Tây, giết dân chúng, đàn áp quân khởi nghĩa của quan Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật. Tui là người đất thần kinh ni, đã nhìn thấy rõ mặt những ông quan, ông vua. Thật hay giả, thiện hay ác. Tui ra đời lúc Tây đánh chiếm cửa Hàn (Đà Nẵng). Ngày kinh đô thất thủ tui đã hăm sáu hăm bảy tuổi rồi. Gốc tổ của tôi ở Đà Nẵng, thầy cử ạ.
Anh cử Sắc đỡ lời ngay:
- Chúng tôi biết chứ, lẽ ra chúng tôi và hai cháu phải gọi chú bằng bác mới phải đạo.
- Không hề chi việc chú hay bác, thưa thầy. Điều cốt tủy là cách đối xử giữa người với người, thầy cử ạ. Như tui vừa thưa chuyện với thầy đó. Lòng người bạc lắm, hiểm lắm. Tui đã thấy, mắt tui đã nhìn rõ giữa thanh thien bạch nhật chứ nỏ phải nghe ai kể. Đúng cái buổi sáng 23 tháng 5 năm Ất Dậu, quan tướng thân thần hộ giá Vua Hàm Nghi ra khỏi hoàng cung. Kinh đô chìm ngập trong khói lửa. Tui cũng chạy loạn như mọi người. Nhưng trong khi chạy, có những tiếng kêu cứu thất thanh giữa đám cháy. Có người nhảy vô lửa cứu người. Tui không thể chạy dài thoát thân được đã nối gót những người đang cứu người bị nạn, tui lao qua một đống lửa, chui vô ngôi nhà đang cháy dở, cõng được một em bé gái, xốc nách kéo lê được một cụ già gần bảy mươi tuổi ra khỏi đám cháy. Bọn tui chạy ra khỏi cửa Thành. Trời vừa sáng bảnh, tui chợt nhìn ở đầu góc đường Hàng Bè có một người con trai trạc tuổi tui đang quỳ lạy một tên giơ gươm chém. Tui nép vô sát hè phố. Nghe rất rõ lời nạn nhân van xin: “Mình với ông là bạn thân là Phấn nghĩa quân của quan tướng! Chớ giết mình! Mình đang còn một vợ hai con. Ông về đầu thú thì mặc. Mình nỏ khai ông với Tây mô. Mình mần ăn để nuôi con thôi”…Nhưng tên kia vẫn đâm, chém hàng chục nhát rồi bỏ chạy. Hắn chạy ngay qua mặt tui. Đến chừ tui vẫn còn nhận được gương mặt tên giết người ngày ấy. Tui nỏ dám vạch mặt hắn vì hiện chừ hắn đóng lon đội khố xanh giữ cửa cho sứ Tây bên tê sông. Người ta quen gọi hắn là đội Xuân!
Tên đội Xuân thường dắt Tây về các làng, các chợ nhà quê vây ráp, ức hiếp dân chúng. Người ta còn đồn rằng, hắn và một số tên nữa định cướp tài sản của ai liền ném bả rượu vô vườn nhà người đó rồi đưa Tây về bắt “quả tang”. Rứa là sạt nghiệp với hắn.
Anh cử Sắc ấp cái ấm trà nóng vào lòng bàn tay, mắt nhìn vào khoảng trống. Bé Côn đang quét dọn bàn thờ cũng dừng tay lại. Anh cử Sắc để cái ấm xuống, hai bàn tay anh đặt lên hai vai phó Tràng:
- Cùng một buổi sáng chạy loạn, một tên thì: sát bằng hữu thoát thân. Còn chú thì: sát thân thành nhân.
- Thầy cử ạ. Tui ghê tởm lòng dạ con người từ cái ngày đó. Tui lại trộm nghĩ: Cái hạng con tốt đen mà lòng nham hiểm đáng kinh tởm. Còn kinh tởm hơn là kẻ có tâm địa đen tối mà lại ngự trên ngôi thiên tử, hay ngồi trên ghế quan triều thì khổ cho muôn dân! Tui – anh đặt tay vào ngực mình – Chính tui nghiệm thấy cái điều đó. Cha tui cùng với tui vô Nội, đục, đẽo, bào, gọt, chạm trổ ra cái ngai. Cái ngai bằng gỗ trăm phần trăm. Rồi mấy ông thợ sơn, phết sơn son lên, thép vàng lên. Người ta phong cho nó cái tên: “Ngai vàng của thiên tử”. Rứa là cả trăm họ cúi đầu trước cái giá gỗ do tay cha con tui đóng. Cái tuồng đời phải vậy thì cứ coi là được đi. Vì người ngự trên cái ngai gỗ ấy là một hiền tài thực sự, dân đỡ khổ. Đằng ni, một tên vô lại được mang danh: hoàng tử lên ngôi do một tên Cơ mật viện sắp xếp thì là một đại họa cho giang sơn, cho nòi giống. Tui là người thợ mộc, tui có cách suy nghĩ của tui chứ. Ưng Lịch lên ngự trên cái giá của cha con tui đóng xưng: Hoàng đế Hàm Nghi. Tui chưa vội nhận là đấng minh quân. Phải đợi cái đức sáng của Vua qua việc làm trước muôn dân, không thể ti ở các tờ dụ, tờ chiếu của Vua được. Đến lúc Vua Hàm Nghi cùng với quan thân thần, với các anh hùng hào kiệt và dân chúng cả nước quyết kháng chiến đuổi giặc Tây thì cái bụng tui sung sướng vô cùng. Cho đến lúc Vua bị bắt đày đi biệt xứ, tui vẫn thờ vua Hàm Nghi trong bụng của tui chứ đâu chỉ thờ Vua ở trên cái ngai gỗ tui đã đóng ra! Tui lại buồn tủi cho cái ngai của tui là Ưng Đăng lên ngôi hoàng đế Đồng Khánh.
Nếu cái ngai nó cũng nghe được như tui thì nó càng đau lòng khi ông chủ trị vì thiên hạ cầm bút “ngự phê những lời vàng sang nước mẹ Đại Pháp”. Và ông ta từ trên cái ngai này ban xuống: “Muôn dân hãy tin ở Trẫm. Trẫm sẽ ban những ân thưởng cho trăm họ. Trăm họ sẽ yên vui tọa lạc dưới bóng cây đại lộ của Trẫm”. Hỡi ôi! Ông vua nói khoác đã chết. Cái ngai tui đóng ở đó. Lời nói khoác và văn tự bán nước của vua sẽ còn lưu lại với hậu thế!
- Trong lịch sử có nhiều vua đã chết ngay khi đương kim hoàng đế. Lúc “băng hà” chẳng qua là để vùi cái xác vô đất mà thôi. Cho nên, những ông vua nói khoác chết cùng lúc với lời khoác lác khi đã lọt vào tai dân chúng. Câu chuyện chú nói sáng nay, tôi càng yêu quý chú nhiều.
- Tôi chỉ dặn chú một điều nhỏ: nên giữ miệng. “Cảm nộ bất cảm ngôn” chú à.
Bé Khiêm từ dưới bếp chạy lên:
- Thưa chú, xôi chín rồi. Đã có nước sôi làm gà chú ạ.
- Rứa à cháu. Chú xuống ngay đây – Anh phó Tràng đứng lên xoa xoa hai bàn tay: Xin cáo lỗi thầy. Tui xuống nhà dưới đã ạ.
- Vợ chồng tôi vô đây nhờ cậy chú nhiều lắm.
- Ấy! Có đáng chi mô thầy. Tui được làm người thân tín của gia đình thầy mà cứ ngỡ mình nằm mơ vậy!...
Anh cử Sắc toan nói thêm một điều gì đó với phó Tràng, nhưng anh ta đã sải bước ra sân, khuất sau cánh cửa.
Côn quét dọn bàn thờ xong xuống bếp. Thấy mẹ đang chăm chú dỡ xôi ra lá, hơi từ nồi chõ bốc mù mịt qua đầu mẹ. Côn đi rón rén đến sau lưng mẹ, hai bàn tay nhè nhẹ bịt mắt mẹ.
Chị cử Sắc nhoẻn cười:
- Côn, con tưởng mẹ nỏ nhận ra con à? Mẹ bận tối mắt, còn con bịt mắt mẹ cho tối thêm à?
Côn cười trừ:
- Sao mẹ lại không nghĩ là anh Khiêm quấy rầy mà mẹ lại đoán ra con hả mẹ?
- Làm mẹ thì phải biết tính biết nết từng đứa con chứ.
Đang hồn nhiên chơi trò “bịt mắt đố mẹ”, Côn đột ngột gọi mẹ giọng buồn buồn
- Mẹ ơi!
- Chi đó con?
- Hôm nay giỗ ông ngoại. Cha mẹ, anh Khiêm và con ở đây cả. Bà ngoại ở ngoài quê chỉ có dì An, chị Thanh, bà buồn nhớ lắm đó. Lúc ngủ dậy con nghĩ vậy, mẹ ạ.
- Ừ - chị cử Sắc cũng đượm vẻ bâng khuâng – Bà ngoại của các con khi mô cũng nhớ con, nhớ cháu cả. Những ngày giỗ chạp thì bà càng nhớ các con cháu đi xa vắng nhà.
- Ước chi con “hóa phép” một cái là bay về quê ở với bà, với dì và chị Thanh vài hôm; con lại hóa phép bay trở vô đây, mẹ nhé?
Chị cử Sắc cười:
- Con chưa hóa được phép để về thăm bà ngoại, thăm dì và chị Thanh của con mà biết nhớ đến là đáng khen rồi.
- Con hỏi mẹ một chuyện nhá!
- Con ra sau hè bê thêm củi vô cho mẹ rồi con hãy hỏi nhá.
Côn vác hai chuyến củi đã chẻ nhỏ đặt cạnh bếp đun cho mẹ. Côn định ngồi vào chỗ cũ, chị cử Sắc lại sai tiếp con:
- Côn ra múc một thau nước, bê vô đây cho mẹ đã.
Côn nhìn mẹ cười:
- Mẹ biểu con bê củi vô thì được hỏi chuyện mẹ kia mà.
- Chưa hết việc thì con còn phải giúp mẹ một tay đã chứ.
Côn cầm thau chạy ra vại nước. Chiếc thau đồng to, Côn phải khuỳnh hai cánh tay bưng kệ nệ vào đặt cạnh mẹ, vừa thở vừa nói:
- Còn việc chi nữa mẹ biểu con làm nốt để con ngồi bên mẹ được lâu, mẹ ạ.
- Còn nhiều việc nữa con ạ. Nhưng chưa cần làm ngay. Con định hỏi mẹ chuyện chi nào?
- Con…- Côn chớp mắt – Con hỏi mẹ là: “Ông ngoại khi còn sống đã lần nào vào kinh đô chưa hả mẹ?”
- Con có nhớ thương ông ngoại không?
- Con rất thương nhớ ông ngoại mẹ ạ.
- Con rất thương nhớ ông. Anh Khiêm của con rất thương nhớ ông. Cha mẹ của các con đều rất nhớ thương ông, đó là con đường ông ngoại vô Kinh, con ạ.
- À!...giờ con mới hiểu ra những lần bà ngoại thường nói mẹ ạ.
- Bà ngoại nói mần răng?
- Bà biểu, con cái ở đâu vong linh ông bà, tổ tiên ở đó.
- Rứa là con hiểu được đôi chút về đường liên lạc giữa người sống và người đã khuất. Giờ mẹ hỏi con nhá?
- Dạ, mẹ đố con à?
- Gọi là đố cũng được. Mẹ đố con là ông ngoại mát năm mô?
Côn nghiêng nghiêng đầu, mắt chớp chớp:
- Dạ…ông ngoại mất năm – Côn tính trên đốt ngón tay – năm Tỵ mẹ ạ.
- Giỏi, nhưng là chi Tỵ?
- Dạ, năm Quý Tỵ ạ.
- Con mẹ giỏi lắm. Con thử tính coi năm Quý Tỵ là niên hiệu chi?
Côn lại nghiêng nghiêng đầu, mắt chớp liên miên:
- Có phải ….như cha con kể Vua Thành Thái lên ngôi năm Kỷ Sửu không hả mẹ?
- Phải rồi. Ở ngoài quê ta, con biết không các bà các ông chẳng mấy nguười biết chữ. Rứa mà họ nhớ rành rọt ngày giỗ của hàng chục người thân. Họ nhớ giờ sinh tháng đẻ của từng đứ con. Đến như loài chim còn biết nhớ đàn, nhớ tổ. Là người thì lẽ nào lại quên cả tổ tông ông bà của mình? Các con thường nghe cha nhắc về họ Hồng Bàng, về mười tám đời Hùng Vương, là nhắc các con phải biết nguồn gốc của mình, nước mình. Nòi giống ta là Tiên Rồng chứ mô phải từ cục đất, hòn đá hở con.
- Vậy giỗ các Vua Hùng ngày mồng mười tháng ba cả nước cúng, hả mẹ?
- Cả nước ai cũng nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Ai có lòng, thuận tiện việc đi lại, có tiền lưng gạo bị thì trẩy hội về đền Hùng. “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”. Ông cha ta đã đặt thành câu ca ấy để mọi người dễ nhớ, con ạ.
- Cha biểu đền Hùng ở đất Phong Châu, ngoài Bắc Kỳ, chắc là xa lắm lắm, mẹ nhể?
- Mẹ cũng chưa được đi tới đó con ạ! Chắc đường đất xa xôi lắm.
- Cha nói có người đến chùa lễ Phật, người đi đạo Công giáo đến nhà thờ cầu Chúa, mà ở nhà họ lại chẳng có bàn thờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ. Cha biểu những người đó chẳng khác chi những kẻ miệng nói thương nòi giống thương dân chúng cần lao đến cắt ruột, ăn không ngon, ngủ không yên, nhưng họ lại đuổi bố mẹ già ra ở xó bếp, chuồng trâu để họ ngủ trên sập chân quỳ, đệm gấm được ngon giấc.
Chị cử Sắc hơi đăm chiêu, giọng nặng trĩu:
- Những kẻ ăn ở không có đạo lý với cả người ruột thịt khi còn sống cũng như lúc hóa người thiên cổ rứa là họ đã suy, đã hư từ gốc con ạ. Phụ bất từ, thì tử bất hiếu; tử bất hiếu, tôn ắt vô luân, thôi con!
Phó Tràng từ nãy ngồi làm thịt gà với Khiêm nhưng chăm chú nghe hai mẹ con chị cử Sắc trò chuyện. Tính phó Tràng nhạy như lửa. Chuyện gì bắt bén tình cảm liền cháy bùng:
- Bác cử ạ.
- Chú phó hỏi tôi hả?
- Dà…ạ
- Việc chi rứa chú?
- Cái phận của tui là tay đục tay cưa nên chi “dùi đục chấm nước mắm” bác xá cho.
- Mô dám – Có chuyện chi vậy chú?
- Từ nãy tới chừ, tai nghe bác nói với cháu Côn mà ngẫm học được vô vàn điều hay, lẽ phải.
- Chú quá khen đó nghe. Mẹ con toi nói với nha chuyện vặt vãnh ấy mà chú.
- Thiệt tình. Tui nói thiệt tình. Trăm lần thiệt cả trăm. Tui được đi lại nhà hai bác và
các cháu là coi như được đi đến trường học. Nếu hai bác là người bá hộ thì tôi nỏ bén chân
tới cổng mô. Hai bác giàu chữ lại giàu cả nhân đức nữa. Khối chi nhà nhiều chữ, sách chất cao quá đầu, hàng kho như đụn thóc mà lại nghèo nhân đức, thiếu cả nhân cách. Nói bác tha lỗi cho – “Nỏ dám” – chị cử Sắc đỡ lời – Đã học mót lại hay nói chữ. Thánh hiền dạy chí phải: “Triệu văn đạo, tịch tử khả hỷ” (buổi sáng được nghe điều sáng tỏ đạo lý, chiều có phải chết cũng thấy thỏa).
- Mọi sự phải lấy đạo làm gốc chú ạ.
- Chính rứa đó bác. Hôm nọ tôi sang sửa lại cái cọc xa quay sợi, nghe thầy cử giảng cho các nho sinh lớp lớn tuổi, tui thuộc được hai câu, đêm đêm đặt tay lên trán ngẫm nghĩ, thấm thía lắm bác cử ạ.
- Hai câu ở sách chi hả chú?
- Tui nỏ nhớ sách. Tui chỉ biết thầy cử Sắc giảng là nghe lọt vô tận tâm can.
- Chú đọc cho nghe, chú.
- Câu thứ nhất: Quân chi thi thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như khấu thù. Ở trong câu ni tui muốn thay một chữ khác bác cử ạ.
- Chú nói thử nghe coi chú.
Thay chữ “dân” thì rộng ý nghĩa hơn là để chữ “thần”. Này nhá: Nếu vua coi dân như chó ngựa thì dân ắt phải đối với vua như giặc thù. Bác nghe có ổn không?
- Được chú ạ. Thần tức là những bầy tôi của vua trong đó bao gồm cả muôn dân. Vua đã coi thần như chó ngựa thì vua còn coi dân ra cái giống chi nữa?
- Cháu Khiêm, cháu Côn nghe chú nói rứa liệu có được không? – Phó Tràng hỏi.
Khiêm nhìn chú phó Tràng cười, đáp gọn một tiếng: “Được chú ạ”. Côn thì gật đầu nói:
- Thưa chú, cháu còn nhớ một câu cha cháu giảng là: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Rõ ràng dân là quý hàng đầu rồi mới đến quốc gia, còn vua thì không đáng kể. Vậy mà vua lạ coi dân như chó ngựa thì dân phải trừ khử ngay cái thứ vua đó, chú ạ.
- Ồ, ồ! Cháu Côn đã nói ra cái điều ni nữa, chú càng tỏ rạng câu của thầy cử giảng mà chú thuộc bữa nọ: “Tru bạo quốc chi quân nhược tru độc phu”. Theo ngụ ý của chú thì giết tên vua tàn bạo của một đất nước là cứu được tai họa cho muôn dân có ý nghĩa lớn lao hơn việc trừ được những tên hung ác khác.
Bé Khiêm dừng tay vặt lông gà, nhìn phó Tràng trìu mến:
- Giá chú học được nhiều chữ thì chú thông nghĩa và hóa rộng ra còn giỏi tuyệt trần!
- Đầu óc chú đặc như cán mai, có ăn nhằm chi mô cháu!
Côn đỡ lời luôn:
- Cháu cũng nghĩ về chú như anh Khiêm cháu nói đó chú ạ.
- Các cháu nó thường nói về chú, đúng rứa đó chú ạ. Nhà tôi cũng hay nhắc với học trò về sự sáng dạ và sự chịu thương chịu khó của chú lặt từng chữ rơi vãi ở nơi ni, ở nơi tê góp thành cái vốn hiểu biết cho mình.
Phó Tràng bưng cái rổ đựng những con gà đã làm xong vừa đi vào bếp vừa nói:
- Chỉ có thầy cử, ròi bác, rồi hai cháu ở đây là những người hiểu được tui. Còn nữa, họ khinh tui là hạng “học mót” bác cử ạ.
- Tránh đâu cho hết được miệng đời, hả chú!...Chị quay ra nhắc hai con: - Các con lên nhà coi cha con có sai bảo chi không. Ở dưới ni coi như xong các việc vặt rồi…
Khiêm và Côn chạy ra vườn nhìn theo hai con chim sẻ tha rác làm tổ. Hai anh em lại chạy vào nhà với cha. Anh cử Sắc phân công ngay các con:
- Giờ này chú nho San sắp đến rồi. Khiêm đi mời các môn sinh cấp huynh, Côn mời các môn sinh cấp đệ. Hẹn đến đúng giờ Ngọ nghe không.
- Dạ, thưa cha đã mời từ hôm kia, hôm qua cả rồi ạ.
- Mời lần thứ nhất còn là tiếng chào cao hơn mâm cỗ. Mời lần này, đúng ngày cúng mới là dọn cỗ đón khách.
Khiêm bước ra khỏi cửa vừa đi cừa nhảy nhót, Côn thì ngắm hàng cây hai bên đường lắng nghe những tiếng chim xa vời vợi
***
Anh cử Sắc hành lễ tưởng nhớ người cha đỡ đầu, người thầy học, người bố vợ xong lúc qua giờ Tỵ sang Ngọ. Anh nho San (Phan Bội Châu) được vợ chồng anh cử Sắc mời đến sớm hơn các bạn bè khác. Anh nho San thành kính lễ cụ Hoàng Xuân Đường trước bàn thờ nghi ngút hương bài.
Vợ chồng anh cử Sắc tiếp đãi những người học trò rất thịnh soạn, thân mật như thết bạn. Mâm cỗ gồm những món ăn đậm đà hương vị Nghệ An. Đám học trò bồi hồi nghĩ về tấm gương thầy, gương gia đình thầy phản chiếu vào tâm hồn sáng ngời. Mỗi lứa tuổi nghĩ về thầy một vẻ. những nho sinh lớn tuổi đã từng học với các thầy đồ nổi tiếng mằng học trò. Cong thầy cử Nguyễn Sinh Sắc thì khác hẳn. Thầy luôn luôn uốn nắn học trò theo khuôn phép: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Nhưng thầy không hề nói miệt thị một lời, không đánh một roi những học trò phạm lỗi hoặc nhậm lĩnh hội, chậm thuộc bài.
Tiễn khách học trò ra về, hai vợ chồng anh cử Sắc tiếp các bạn thanh khí, các bạn cùng học Quốc Tử Giám. Vợ chồng anh không đãi bạn bằng mâm cao cỗ đầy mà chỉ là một dịp gặp gỡ các bạn đồng tâm đồng chí giải sầu qua chén rượu qua câu văn bình, qua tiếng thở than về vận nước…
Nắng tàn trên sân. Trong nhà hết khách. Còn lại anh nho San với anh cử Sắc. Chú phó Tràng ngà ngà rượu đã về nhà mang theo vào giấc ngủ những khuôn mặt khôi ngô tuấn tú đượm vẻ buồn của bạn bè anh cử Sắc.
Chị cử Sắc và hai con đã dọn dẹp gọn gàng từ ngoài sân tới trong nhà. Chị bưng từ gác chạn xuống cái mâm sắp sẵn mấy phần đem đi biếu…
Chị dặn bé Khiêm:
- Bà con quanh xóm mẹ đã biếu đủ cả rồi. Của ít lòng nhiều, mỗi nhà một tý gọi là ngày nhà mình cúng giỗ ông. Còn hai nhà nữa, hơi xa mẹ chưa đi biếu được. Hai anh em con đi thay mẹ nghe không. Đây, con bưng sang biếu bác Tiếu, nhưng con phải nói là mẹ cháu xin lỗi hai bác không sang được, cho cháu sang biếu bác cơi trầu nhân ngày kỵ giỗ ông, chứ không được nói đến xôi thịt chi mô nhá.
Chị quay sang Côn:
- Con đi biếu dì Hai ngoài xóm chợ cho mẹ nghe. Con cũng nói như mẹ vừa dặn anh con.
Côn nhìn mẹ vẻ lưỡng lự:
- Mẹ ơi, con đi ra từ nhà dì Hai lúc quay về chắc tối mịt rồi mẹ nhể?
- Ừ! Nhưng con đi mau bước hơn cả mẹ thì về chưa đến nỗi tối lắm đâu!
- Con nghe bọn nhỏ ngả tư “âm hồn” biểu: trên ngọn cây cao nhất ở góc đường có con ma, ban đêm hay xuống bắt nạt trẻ con, trêu ghẹo người lớn, mẹ ạ.
- Con cũng tin cái chuyện nhãm nhí của đám nhỏ chúng hù dọa nhau à?
- Dạ. Con còn hỏi mẹ đã. Con đâu có tin ngay ạ.
- Mẹ biểu đó là chuyện bịa nhảm. Con đã thật tin lời mẹ chưa nào?
- Dạ, con chỉ ngờ ngợ chút xíu lúc đầu mới nghe thôi mẹ ạ.
Côn bưng lấy cái rá đậy kín bước ra cửa, chị cử Sắc nhắc với theo:
- Con chạy ù rồi về nghe chú San nói chuyện ngoài quê ta với cha mẹ, con ạ. Khiêm cũng vậy, đi mau về con nhá.
Khiêm từ nãy mở cửa chạn, lật tìm từng chỗ mẹ hay cất thức ăn vẫn không thấy mẹ dành lại một chút phần mẹ. Khiêm hỏi mẹ, giọng nói khẽ khàng, từ tốn:
- Em Côn nói nhỏ với con là từ sáng đến giờ, mẹ chưa ăn một chút nào cả.
- Lo chi việc ăn uống của mẹ, hả con. Mẹ hiểu các con băn khoăn, sợ mẹ mệt, mẹ đói. Em Côn của con nó thấy mẹ chưa ăn nó cũng chẳng dám ăn, chỉ ngồi với các bạn cho vui lòng bạn.
- Mẹ bớt các mâm một tý, bớt các phần biếu xén thì đâu có thiếu?...
Chị cử Sắc biết con còn thơ dại, ăn chưa biết no, lo chưa tới việc, chị dặn dò ngay:
- Con phải nhớ câu: “Nhịn miệng thết khách”. Không ai lại làm cái việc: “đãi khách nhẹ đầu tăm, mình ăn gắp nặng đũa”. Những kẻ vô tâm mới cắm đầu ăn cho no bụng mình chẳng nghĩ đến phần ai. Nhà mình tuy ít của nhưng biết có miếng ăn chia cho đều, có cái tình thì thương cho khắp. Của ăn thì hết, của cho thì còn. Con nhớ kỹ cái điều ấy….
Khiêm nhận ra sự nghĩ non dại của mình, thấm thía lời mẹ dạy. Khiêm nhìn mẹ với cử chỉ vừa biết lỗi vừa trìu mến lúc bưng cái rá đậy kín ra đi. Trời chạng vạng phập phồng sương mỏng.
PHẦN 7
Chị cử Sắc sửa soạn lên đèn. Chị nghiêng đầu ghé miệng thổi vào con cúi rơm ủ lửa; lửa cháy bùng ngọn cao quá gang tay. Chị châm vào đèn, cả giang nhà sáng bừng. Chị lại vùi con cúi rơm vào tro, lửa âm ỉ cháy. Chị vừa quét dọn vừa thầm đuổi theo những điều nghĩ ngợi không mạch lạc: ở nhà các quan to, các nhà hoàng tộc có những đồ dùng thật lạ mắt do đám quan Tây biếu nhân ngày đại khánh nước Pháp, ngày Tết, ngày lễ thọ tiết. Lạ nhất là cái hộp đựng lửa mà không hề có lửa trong đó. Cái hộp vuông vuông nho nhỏ như một thỏi vàng vó, trong đựng những que tăm có đầu nụ màu nâu sẫm. Mỗi lần lấy lửa chỉ cần cầm cái tăm ấy quẹt vào một bên cái hộp là xòe lửa lên, tiện lợi vô cùng. Đi gần đi xa đều đem theo dễ dàng; lúc đêm hôm để cái hộp lửa ấy bên người, trong túi áo không sợ hỏng, sợ cháy chi cả! Lại còn cả cái món giống như khối bánh đúc mà lại giặt sạch, giặt trắng quần áo, không cần phải dùng bồ hòn, bồ kết hay lá đu đủ. Họ gọi bằng cái tên rất lạ “xa vông” hay là “xà vồng” hoặc “xà bông”, “xà phòng” chi đó
- Nhà ơi! – Anh cử Sắc gọi vợ (chị cử Sắc thưa một cách thảng thốt vì còn mơ mơ màng màng). – Anh nho mời mình lên nói chuyện ở ngoài quê, mình ạ.
Chị cử Sắc lên nhà, cầm theo cái đĩa đèn, đặt vào đế trên cái cọc đèn ba chạng. Chị ngồi xuống chiếc ghế thấp gần cửa, nói:
- Từ lúc anh nho đến, tôi mừng quá nhưng còn bận tối mắt. Anh xá lỗi cho nha.
- Chị cử lại coi tôi là khách rồi. Anh chị lo liệu việc cúng giỗ thầy mà tôi lại chẳng giúp được chi. Đó mới là điều tôi có lỗi với anh chị.
- Ấy chết. Anh nho đừng nghĩ rứa. Anh đến với vợ chồng tôi lại trùng hợp với ngày giỗ cha còn có chi quý hơn sự hạnh ngộ ni, hả anh. Thiên lý tha hương ngộ cố tri – Anh nho San, anh cử Sắc cười vui vẻ
- Nhà tôi - anh cử Sắc tiếp lời vợ - Nghe tin bạn vô Kinh, nhà tôi giục tôi đi tìm gặp anh bằng được. Cháu Khiêm, cháu Côn cũng mừng rối rít giục cha đi đón chú nho San.
- Hai cháu đi mô rồi chị? - Phan Bội Châu hỏi.
- Dạ, tôi sai hai cháu đi qua bên xóm có chút việc ạ. Có lẽ các cháu cũng sắp về anh ạ
- Tôi mừng cho anh chị, các cháu ngoan lắm. Mới vài ba năm xa, gặp lại mà thấy các cháu lớn hẳn ra. Tôi từng nói với anh cử: Cháu Côn là đứa có thiên tư đặc biệt từ năm cháu lên ba, sau khi thầy của chúng ta từ trần. Nay gặp lại cháu, tôi càng tin sự tiên cảm ấy hoàn toàn đúng. Mới ban trưa nay, lúc các bạn học của cháu chưa đến, tôi ngồi trò chuyện với cháu càng thấy sự thông sáng, tinh anh của cháu mà giật mình! Vì năm lên bốn, lên năm, tôi đã được mẹ dạy thuộc khá nhiều câu, nhiều đoạn trong sách Luận Ngữ, Kinh Thi...lên sáu tuổi tôi chỉ học có ba hôm mà thuộc làu cả quyển Tam tự Kinh. Thấy lạ cha tôi liền cho học sách Luận Ngữ ngay. Nên chi, bảy tuổi, cái tuổi nhìn trời bằng vung tôi đã viết: “Phan tiên sinh Luận ngữ”. Nay thấy cháu Nguyễn Sinh Côn đang ở cái tuổi của tôi ngày ấy mà cháu còn thông mẫn...
Anh Sắc nói:
- Ngày ông ngoại cháu còn sống cũng thường căn dặn tôi, nếu cần không nhận dạy cho bất kỳ một lớp nào để chuyên tâm cho việc dạy cháu Côn học với trọng trách: dưỡng sinh súc nhuệ.
Chị cử Sắc nói đượm vẻ vui về con vừa lo cho con:
- Nói giấu có anh nho, cháu Côn của chú nó sáng dạ, lanh ý, mau biết đến cả việc mà người lớn lắm khi chưa kịp nghĩ tới, tôi cũng lo anh ạ
- Mỗi lần tôi sang làng Chùa thăm bà, lần nào bà cũng nhắc đến chuyện nhớ cháu Côn trước nhất. Bà cũng hay nghĩ ngợi, lo lắng: “Những đứa trẻ khôn trước tuổi thường khó nuôi hơn là những đứa con ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ lo chi...”.
- Của đáng tội, vì việc học hành của cháu mà mẹ tôi phải đức ruột để cháu Côn vô Kinh với vợ chồng tôi. Ngày còn ở nhà, bà chẳng rời cháu lấy nữa bước anh ạ.
- Con cá lớn phải vùng vẫy nơi biển cả chứ không thể nhốt trong lòng sông được – Anh cử Sắc nói.
- Đúng. Anh chị sớm nhận ra điều ấy. Đến nay tôi vẫn chưa mở được cho mình một cái cửa đi ra biển. Tôi vô Kinh lần ni cũng là chuyến đi....
Chị cử Sắc thở dài:
- Tôi nghe nhà tôi nói việc anh bị nạn trong thi cử! Thật là, “học tài thi phận”.
Phan Bội Châu nhíu cặp lông mày lưỡi mắc, bàn tay đỏ son đỡ lấy cái cằm vuông râu dày hớt bằng, mắt nhìn chị cử Sắc, giọng nói thanh thản, tự tin:
- Con người có số phận, nhưng còn có “nhân định thắng thiên” chị cử ạ. Thôi chuyện cái án “Hòa hiệp văn tự, chung thân bất ứng thí” của tôi rồi sẽ bàn định với anh cử và một số bằng hữu hiện ở kinh đô. Để thì giờ tôi thưa chuyện với anh chị về tin quê nhà. Tôi có ý định để dành nói với anh chị tin vui lúc ấm cúng như lúc này
Anh cử Sắc nhìn vợ cười ý nhị, nói:
- Mình thấy chưa, cứ băng khoăn anh nho San vô mà mẹ lại không nhắn gửi chi, cái Thanh, dì An cũng lặng bặt hẳn?
Chị cử Sắc cười trừ:
- Nhà phải khen tôi nghĩ đúng chứ. Anh nho rất ý nhị đã dành cho chúng ta một niềm vui tưởng như không có, thì càng vui hơn gấp bội.
- Chị cử sâu sắc lắm. Chả thế mà chị em phường vải ở quê vẫn tiếc không có chị ở nhà để “bẻ chuyện” cho họ hát ví. Từ ngày chị vô Kinh, làng Chùa vẫn chưa có ai bẻ chuyện suông lời dễ hát và thâm thúy bằng chị.
- Dì An nó cũng đối đáp mau lắm chứ anh nho.
- Sao bằng chị được
Phan Bội Châu lấy cái khăn gói trên bàn kê sát phía vách. Anh mở khăn, bưng cái tráp gỗ sơn đen nho nhỏ lớn hơn chiếc gối mây. Anh cầm trên tay gần một gang những đồng bạc trắng, nói:
- Bà gửi cho anh chị.
Vợ chồng anh cử Sắc bồi hồi, cả hai người môi rung rung cố nén xúc động. Anh cử Sắc nói tiếng trầm lắng:
- Sống gần trọn đời, mẹ tôi nhịn miệng cho chồng, rồi cho con, lại nhịn miệng nuôi cháu.
Chị cử Sắc tiếp lời chồng:
- Mùa màng vừa rồi khá không mà cụ gửi cho chúng tôi nhiều ri, anh nho?
- Bà nói với tôi là anh cử Sắc lại sắp thi Hội, cần có tiền để chi dùng. Vụ mía năm vừa rồi rất tốt, bà kéo được những năm chum mật. Cánh nhà buôn dưới Vinh lên mua sỉ làm bánh kẹo bán Tết nên bà có dược món tiền kha khá. Bà rất khỏe. bà dặn anh chị đừng nghĩ ngợi chi việc ở quê nhà, cốt lo việc đèn sách thi cử của anh và việc đèn sách của hai cháu. Bà vẫn dặn đừng để cháu Côn học quá sức của nó mà sinh ốm về sau dưỡng không lại. Bà cứ thở dài mỗi lần nhắc đến cháu Côn.
Chị cử Sắc rơm rớm nước mắt. Anh cử Sắc rót thêm rượu vào chén, cầm lên đặt vào tay Phan Bội Châu. Anh cũng nâng chén lên nhấp một tý rượu. Phan Bội Châu giọng vui hơn:
- Cô An lớn hẳn lên, đẹp nhất làng Chùa rồi. Tôi nói trêu: O rồi sẽ đẹp bằng chị Loan đó. O ấy lắc đầu ngoay ngoảy: “Em chỉ bằng cái gót chân chị Loan của em thôi”
Chị cử Sắc đỡ lời:
- Cái con nhỏ ấy chỉ…nói…
Anh cử Sắc hỏi vui:
- Đã có đám mô nhìn ngó em nó chưa anh nho?
- Nghe bà mách đã có tới bảy tám nơi đến xin chạm ngõ. Nhưng bà đợi ý kiến của anh chị đó. Con bé Thanh của anh chị thì…ra dáng một o thiếu nữ rồi. Nó quấn quít với tôi dặn đi dặn lại: Chú vô thưa dùm cha mẹ cháu là kỳ thi Hội tới cha cháu chiếm được bảng vàng hay lại học tài thi phận thì cha mẹ cũng trở về quê thôi. Cháu nhớ cha mẹ, nhớ hai em, nhiều đêm nỏ ngủ được…Nghe bé Thanh nói vậy, bà mắng luôn: Cháu chớ nói dại. Việc học hành thi cử của cha cháu là chuyện hệ trọng, bà cháu mình mắt thịt người trần biết mô mà bàn hả cháu – Cả ba người cười cởi mở.
- Tội nghiệp – Chị cử Sắc nói – Cháu nó nhớ quá vì vắng cha mẹ, xa hai em đã ba năm chứ ngắn ngủi chi.
Có tiếng đàn môi từ ngõ – Anh Sắc nhìn vợ nói:
- Có lẽ bé Khiêm đã về đó mình – Chị cử Sắc khẽ gật đầu, đứng dạy nói với Phan Bội Châu:
- Anh nho cứ an tọa nhá. Nhà tôi hầu chuyện anh sáng đêm được. Tôi xin phép xuống nhà xem các cháu đi công việc về chưa.
- Đa tạ chị cử. Chị cứ tự nhiên, đừng coi tôi như khách. Chị cứ đi – Phan Bội Châu giọng tha thiết bâng khuâng:
“Nghệ An bằng hữu lai vấn án, nhất phiến đan tâm ký thác tâm”
Chị cử Sắc chắp tay trước ngực, hơi cúi chào Phan Bội Châu:
- Dạ. Thưa anh, trong hoạn nạn mới rõ bạn đá vàng ạ.
Chị cử Sắc cầm đèn ra sân. Khiêm đã về đang rửa chân mò trong tối. Chị cử Sắc soi đèn ra cái vại nước. Khiêm múc thêm một gáo nữa dội tiếp vào đôi guốc mỏ cong cuốn xỏ quai mây. Chị cử Sắc hỏi con:
- Em nó về chưa hả con?
- Dà ạ. Chưa mẹ ạ - Vừa lúc Khiêm trả lời mẹ thì Côn núp trong bóng tối chạy ra “vồ” vào lưng mẹ, “hù” một tiếng. Chị cử Sắc hơi giật mình. Côn cười sằng sặc. Chị cử Sắc mắng yêu con:
- Các con lừa mẹ kiểu ni có ngày mẹ ngã lăn ra thì có khóc ráo nước mắt, nghe không.
- Bé Côn nó bày ra cái trò ấy đó mẹ.
- Mẹ cũng thừa biết là Côn rồi.
- Con – giọng Côn nũng nịu – con…con biết mẹ cứng bóng vía thì con mới chơi cái trò “rình vồ”.
- Các con rửa chân tay rồi lên nhà học bài. Nhớ để ý khi cha sai bảo gì nghe không. Mẹ đi nằm nghĩ lưng một lát đây.
- Cả ngày ni mẹ chưa ăn chưa nghỉ chi cả! – Côn nói, nhìn theo mẹ đi vào buồng, vẻ lo lắng đọng trong đôi mắt trẻ thơ!
Chị cử Sắc đặt lưng xuống giường êm ái mà lòng nặng trĩu nỗi nhớ mẹ già, nhớ con gái, nhớ cô em út, ba mẹ con bà cháu đang sống trong cảnh heo hút không tiếng đàn ông. Hình ảnh mẹ, bà Hoàng Xuân Đường tóc ngả màu pha sương đứng bên gốc cây thị trước ngỏ nhìn ra cáng đồng xa tít mắt ngóng đợi tin con…Đàn gà ríu ra ríu rít kiếm ăn dưới các gốc cây trong vườn… Mái nhà tranh như hai cánh chim ấp ủ dưới bóng tre dìu dịu lam xanh. Đứa con gái bé, Nguyễn Thị Thanh, tuổi mười bốn mười lăm, ngồi trong chiếc thuyền thúng đủng đỉnh hái sen trên ao vắng lặng…Đứa em gái, Hoàng Thị An, xấp xỉ đôi mươi, ngồi bên cửa sổ đầy ánh trăng suông mà một thời tuổi hoa chị thường ngồi dệt vải thâu canh…Rồi từ xa thẳm của tâm hồn chị dậy lên những câu thơ Kiều in sâu trong trí nhớ: “…Đoái trông muôn dặm tử phần…Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa…Xót thay Huyên cỗi Xuân già…Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi…!”
Khiêm và Côn vào chào Phan Bội Châu và được cha cho ngồi bên hầu rượu. Khiêm ngồi hơi khuất sau Phan Bội Châu. Côn ngồi lùi xuống thấp hơn vị trí của cha và bạn của cha.
Phan Bội Châu nhìn cử chỉ lễ phép, có ý tứ của Côn và Khiêm liền chìa tay về phía chổ trống:
- Cha các cháu cho phép các cháu rồi, chú mời cả hai anh em ngồi lên trên ni cho ấm cúng.
- Chú miễn cho, các con ngồi lên đây.
Khiêm đứng khoanh tay thưa:
- Dạ thưa cha thưa chú con bị váng đầu từ chiều. Con xin phép cha xin phép chú cho con được đi nghỉ sớm ạ.
- Chắc con bị cảm, do dầm nước từ sáng sớm, lại chạy ra chạy vô dưới nắng.
Phan Bội Châu cầm tay Khiêm xem mạch, sờ trán…- Cháu bị cảm thời kí, anh cử ạ, nhưng nhẹ thôi – Phan Bội Châu nói. Ông mở luôn cái tráp đặt bên cạnh lấy gói thuốc viên đưa ra đưa cho Khiêm một gói nhỏ, nói:
- Tôi hoàn tán mấy thứ thuốc mang đi đường, anh cử ạ.
- Ngày nọ, vợ chồng tôi vô đây cũng phải mang đủ các loại thuốc phòng. Lại còn phải lo cả những thứ thuốc bệnh ấu nhi, vì ngày đó cháu Khiêm mới lên bảy, cháu Côn lên năm. Hiện trong nhà có sẵn thuốc cả anh ạ.
Phan Bội Châu giọng rất vui nói với Khiêm:
- Cha cháu là một ông thầy thông y, bác vật, và cũng có sẵn thuốc trong nhà. Nhưng cháu uống mấy viên thuốc cảm thời khí ni của chú để lấy “khước”, nghe không cháu…Nhớ uống với nước chè ấm cháu ạ.
- Dạ cảm tạ chú – Khiêm đáp rồi đi vào nhà trong
Côn đỡ lời anh:
- Chúng cháu lấy được cái “khước” (lấy may mắn) của chú thì thích quá. Chú nổi tiếng “vua” chữ, “vua” thơ phú, “vua” bẻ chuyện hát ghẹo (ví) rồi vua…- Côn ngập ngừng – Vua…vua….
Phan Bội Châu gạn hỏi: - Cháu định nói vua chi nữa?
Côn cười hồn nhiên thưa:
- Chú có nhiều thứ vua cháu không nhớ hết được ạ.
- Ai nói chú có nhiều thứ vua với cháu?
- Dạ thưa chú, bà ngoại cháu, mẹ cháu, cha cháu, dì An cháu, rồi cả quan lớn, quan nhỏ người Nghệ Tĩnh đến đàm đạo với ch cháu đều nhắc đến tài hay chữ của chú và nhiều thứ tài khác như cháu vừa kể. Cháu cũng thích tôn chú là vua. Tiếng Vua là của cháu chú ạ.
- Bà ngoại cháu, cha mẹ cháu và nhiều người thương mến chú mà dành cho chú những danh hiệu đẹp ấy. Thực tình chú không có nhiều điều “hay” như cháu vừa kể ra đâu, cháu ạ. Cháu cũng vì quá yêu quý chú, tôn chú là “Vua” của bao nhiêu thế. Trái lại chú đang sống dở chết dở do sự “ngông”, sự “cứng đầu” của mình.
- Cháu nó chẳng nghe lời người lớn nói mà tự thân biết anh ạ. – Anh cử Sắc nói.
- Đúng cháu Côn có thiên tư: Lãnh noãn tự tri
Anh cử Sắc nhìn con trìu mến nói:
- Con xin phép chú đi học bài. Cần con giúp việc chi, cha sẽ gọi.
Côn lễ phép nói:
- Thưa chú, cháu xin phép cháu đi học bài ạ.
Phan Bội Châu đặt bàn tay nhẹ nhàng lên vai Côn và hai mắt nhân từ của ông in vào đôi mắt tinh anh của Côn:
- Chú cháu ta khác nhau về tuổi tác, nhưng đều cùng trong một thời Tổ Quốc suy vong, anh hùng mạt lộ. Chú cũng đang học, cha cháu cũng đang học, cháu đang học, còn phải học. Chúng ta học rồi phải làm sao đây rửa cho được cái nhục mất nước! Nói chuyện với cháu, chú biết cháu đã thuộc khá nhiều sách và hóa trong đầu cháu nhiều điều thông sáng. Chú mừng lắm. Chú nghe cha cháu nói, cháu đã học đến thuộc lòng bài “Ái Quốc”, “ái quần” chỉ trong vòng nhai tàn miếng trầu. Ôi! Chú không ham thích các thứ “vua” như cháu kể ra ban nãy. “Túc dạ bất vong duy trúc bạch, lập thân tối hạ thị văn chương”. Thực tình chú đeo đuổi việc thi cử để có được cái “bảng Hổ”, “bảng Rồng”, không vì danh lợi mà vì mục đích khác cháu ạ. Nếu chú không có được cái bảng ấy thì liệu được mấy người nghe lời chú nói, theo việc chú làm? Chú nói thật lòng với cháu rằng, chú có một ham muốn vô độ đó là: Cứu nước. Sống cho nước. Chết vì nước.
- Thưa chú cha cháu cũng dạy cho cháu: “Thề cảm tử cho Tổ Quốc quyết sinh”. Lẽ nào lại ham sống “sinh vi nô lệ sinh do tử, tử hữu tinh thần tử nhược sinh”. Chú Hồ Tá Ban đã nói với cha cháu những lời ấy.
Phan Bội Châu ôm choàng Côn vào lòng:
- Cháu…cháu…cháu của chú được lắm! Sống nô lệ là coi như đã chết. Có tinh thần chết vì nghĩa lớn thì vẫn như còn sống mãi. Ngày chú đang còn vị thánh niên, Tây chiếm xứ Bắc Kỳ của chúng ta, chú ngồi trước đèn viết hịch “Bình Tây thu Bắc” cũng với một tinh thần như ngôn chí của cháu bây giờ.
Phan Bội Châu quay sang nói với anh cử Sắc:
- Ngôn vi tâm thanh, anh cử ạ! (lời nói bày tỏ ý chí trong lòng).
Anh cử Sắc cười:
- Cháu có triển vọng “ngôn hành tương cố” (nói đi đôi với làm). Tôi đặt nhiều hy vọng vào nó
- Anh quay lại nói với Côn:
- Con đến học bài đi
Côn rót tiếp vào hai chén ột tuần rượu nữa rồi đến bàn học.
Đêm tĩnh mịch.
Côn ngồi một mình trước đèn, mắt soi lên trang sách, thu hút từng chữ vào tâm trí. Phan Bội Châu vẫn còn nói chuyện với Nguyễn Sinh Sắc:
- Điều đáng quý ở cháu Côn, vừa thông minh đĩnh ngộ, vừa biểu lộ sớm cái đức tính “kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân”… Qua cử chỉ và lời nói của cháu trong việc cúng giỗ ông ngoại, đối với khách của bố mẹ, đối với bạn đồng môn, đồng lứa, thấy rõ cái đức tính của cháu. Tôi đã kinh lịch qua những gia đình thuộc các dòng họ lớn, có tiếng anh như thế phiệt, nhưng chưa gặp một cháu nào hội tụ những manh nha hứa hẹn như cháu Côn của anh chị. Anh chị đưa cháu vô đây ăn học là đúng sách rồi
- Vâng, đất thần kinh mà. Ở đây cháu nó được nghe nhiều điều mà cũng thấy được tanah mắt nhiều việc. Chỉ riêng cái việc nước Pháp cai trị nước mình, áp đặt dân mình thì ở đây mặt quan Tây lộ ra giữa thanh thiên bạch nhật. Còn ở quê mình thì đám quan Tây núp đằng sau đám quan nha, lý dịch của Nam triều nên khó thấy tội ác từ cái đầu chủ mưu đến bàn tay đẫm máu của chúng. Mới đây, toàn quyền Đông Dương bãi bỏ chính phủ Nam triều và nhập vào Tòa khâm sứ Trung Kỳ! Vua hoàn toàn làm bù nhìn rồi. Dụ, chỉ, chiếu…của vau ban chỉ là tờ giấy ma. Còn nghị định của Tòa khâm sứ của Toàn quyền mới là dao kéo xẻ thịt dân mình. Thuế thân, thuế ruộng, thuế đất, thuế muối, thuế rượu, thuế hàng bán sỉ, hàng bán lẻ, thuế môn bài, thuế hàng chuyến đều do Tây đặt ra và định mức.
- Chúng còn cho mở sòng bạc, tiệm đĩ, tiệm thuốc phiện để thu thuế anh ạ. Phó Vinh ở quê ta đã có dụ vua và nghị định Toàn quyền thành lập thị xã và cho mở các thứ tiệm. – Giọng Phan Bội Châu buồn buồn – Bên cạnh chợ Vinh và gần cổng Chốt đã mọc lên “tiệm bình khang” anh ơi!
Hai người ngồi yên lặng, nhìn vào đêm tối mờ mịt. Côn rời khỏi bàn, đi rón rén đến rót tiếp rượu vào hai chén. Phan Bội Châu quay lại nhìn Côn, nói:
- Cảm tạ cháu
- Bổn phận của cháu ạ.
Côn lại ngồi trước đèn tiếp tục học. Anh cử Sắc sửa lại thế ngồi, tựa cánh tay trên mặt gối, đầu kê gần Phan Bội Châu nói chậm rãi:
- Việc gỡ cái án “chung thân bất đắc ứng thí” có thể yên tâm được đó anh. Bữa nay, nhân chén rượu giỗ thầy chúng ta, anh làm quen được với cụ Thượng Tấn, các quan viện Đô Sát, Quốc sử quán…người đồng châu với chúng ta, đó là điều rất thuận lợi. Vì tôi đã nói rõ sự việc của anh trước khi các cụ gặp anh. Đằng anh đốc Đặng đã giới thiệu kỹ về anh với quan Tể tửu Khiếu Năng Tĩnh và quan Biên tu Nguyễn Thượng Hiền
Phan Bội Châu vẫn ngồi yên lặng như pho tượng, mặt trĩu xuống, ánh mắt lấp lánh nỗi đau! Anh cử Sắc nói tiếp, giọng ấm, trầm lắng:
- Khi nói về anh, tôi thấy không ai có gợn chút nghi ngờ về tài đức của anh. Và người nào cũng biết tiếng anh một tài hoa phóng bút. Nên chi bất lợi trong việc thi cử của anh. Một bạn đồng khóa cảm phục tài văn anh, biết rõ cái “ngông” của anh nên mới chuyển bài snag lều cho anh, làm anh phải liên lụy, chịu oan án cả đời không dược thi cử nữa. Vậy thì, mọi người có hoàn cảnh, có điều kiện đều góp công góp sức vào gỡ cái án ấy cho anh. Gỡ ra cho anh là vì tấm lòng trong sạch của anh, vì mục đích cao cả của anh. Như vậy, tất cả đều vì nghĩa lớn mà làm.
Phan Bội Châu xòe bàn tay đỡ lấy cằm râu, mắt long lanh nhìn vào ngọn đèn.
- Đa tạ anh cử đã gỡ được những sợi dây vô hình nó trói chặt lấy tôi từ bấy lâu nay. Anh đốc Đặng cũng sẽ giúp đỡ tôi hết lòng về việc này. Ngài Nguyễn Thượng Hiền, ngài Khiếu Năng Tĩnh tôi đã yết kiến. Trong những ngày ở lại kinh đô, tôi đã xếp được một chổ ngồi dạy ở An Hòa. Vậy là chắc chắn để lo cái việc hệ trọng đó. Tôi hiện còn ngại ngùng một chút về cụ Thượng Tấn. Một đại thần. Đành rằng khi cụ ngồi Tổng đốc ở tỉnh ta nổi tiếng thanh liêm, thương dân, dám làm phêu dạu ngầm cho cuộc nổi dậy chống Tây của cụ Phan Đình Phùng…Hiện tại cụ là Thượng Thư Bộ Hình và nghe nói cụ sắp ra Nghệ An ngồi ghế Tổng đốc An Tịnh lần thứ hai. Cụ ủng hộ việc xóa án “chung thân bắt đắc ứng thí” thì ổn mọi bề, nếu cụ không thuận thì trở ngại lớn? Phan Bội Châu gieo từng tiếng bâng khuân - Thượng… thư… bộ… Hình… Tổng…đốc …An …Tịnh.
Nguyễn Sinh Sắc nói với Phan Bội châu với khí sắc hào hứng và tự tin:
- Anh San ạ. Là người bạn vong niên của Đào Tấn, tôi nhận chân về cụ, một Đào Tấn Tổng đốc Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hình, lại còn một Đào Tấn thi nhân, Đào Tấn nghệ sĩ tuồng, tác giả tuồng pho…Chúng ta hoàn toàn tin cậy quan Đào Tấn, một loại ông quan “tọa nha hành thiện”
Phan Bội Châu nhấp tí rượu, gật đầu, sửa lại vành khăn nói giọng rất sáng:
- Anh xét trên từng diện mạo về một con người. Đúng! Nhìn lại cuộc đời làm quan của cụ Đào Tấn, cụ ngồi ghế quan trường để làm việc thiện. Có thể tin được lắm!
Nguyễn Sinh Sắc nhấn từng tiếng:
- Tôi nói Đào Tấn thi nhân, không phải vì Đào Tấn làm được nhiều bài thơ, bút danh Mộng Mai, chép thành tập: Mộng Mai ngâm thảo. Mà vì thơ ông là tiếng lòng ông, tiếng lòng của những người chịu bao số phận ngang trái và có cả tiếng thở dài của đất nước nữa! Chứ đời này không ít kẻ ngồi ghế đầu triều làm thơ tán tụng mình, mị chuộc kẻ dưới, những mắt người đời không dễ gì che kín hết được, anh ạ.
Phan Bội Châu nhấp hai tợp rượu liền, gật đầu tay đỡ lấy cằm râu:
- Rất…rất đúng. Ngụy bất yểm chân (cái giả dối không bao giờ che lấp được cái thật). Anh đã giúp tôi hiểu thêm cụ Thượng Tấn
Nguyễn Sinh Sắc nói tiếp:
- Khi nhận định Đào Tấn tác giả tuồng, không vì cụ viết được nhiều vở tuồng đã dựng diễn ở nhiều nơi. Anh còn lạ gì Hoàng Cao Khải cũng viết tuồng, nghe nói họ Lê Hoan, Lê Đức nào đó cũng viết tuồng. Họ cậy thế quan to, bắt chép các vở tuồng của họ đưa về các nơi giao cho các trùm phường phải dựng diễn.
Phan Bội Châu nói tiếp luôn:
- Họ viết tuồng để bào chữa tội ác làm tay sai cho giặc, che giấu những âm mưu bẩn thỉu, đen tối của họ. Nghĩa là để xuyên tạc lịch sử.
- Còn Đào Tấn – Anh Săc nói tiếp – Viết những vở tuồng lấy từ những tích truyện cổ của ta, của Tàu để làm sáng tỏ các gương trung liệt, nghĩa khí, vạch tội bọn gian thần. Cụ chỉ dựa tích truyện cũ để nói gì với đời này, nhắc người đời nay phải làm gì đối với hiện tình đất nước. – Anh cử Sắc nhấp tí rượu, giọng nói càng thêm tâm tình – Tôi có được nghe chuyện vua Thành Thái xem tuồng: “Tiết Cương tế thiết khâu phần” của quan Đào Tấn, cụ Hường Ích, quan Thị lang bộ Lễ nói với tôi trong một dịp cụ xin tôi câu đối Tết.
- Cụ Hường Ích cũng biết tiếng anh có chữ thần, bút hoa à?
- Cũng là do cụ Thượng Tấn đó anh ạ. Cụ Hường Ích rất chuộng chữ địa triện, lại ưa cả chữ lệ và chữ thảo. Cụ Thượng tấn giới thiệu tôi với các đồng liêu. Cho nên, nhiều ông trọng thần đưa con đến nhờ tôi dạy. Tết năm nào tôi cũng gò lưng tôm vì cái nạn viết câu đối Tết. Hôm uống rượu khai bút tại tư dinh quan Thị lang Hường Ích, cụ kể nhiều chuyện hậu cung bí sử với tôi. Thấy chủ, khách giao hoan tâm đắc, cụ kể luôn chuyện cụ Đào Tấn viết vở tuồng “Tiết Cương tế thiết khấu phần”. Năm đó cụ Đào đang ngồi ghế Án sát tỉnh Bình Định. Cụ viết tuồng này với ý tưởng ngợi ca những bậc trung thần và người tiết nghĩa; lên án bọn gian thần xiểm nịnh dựa vào ông vua ngu dốt có máu hôn quân để hãm hại những tôn hiền. Tâm trạng cụ Đào lúc sáng tác vở tuồng này là sự giằng xé giữa nhân vật của nghệ thuật sân khấu với nhữg tên quan lại làm mật thám cho Tây, lộng quyền, mưu thuật, đang đầy rẫy chung quanh ông, ngồi trên đầu ông như Trương Như Cương là tên hiểm độc số một, nhưng làm thế nào quất được roi tuồng vào giữa mặt hắn là một việc rất khó, rất nguy hiểm. Hắn là phụ chánh đại thần kiêm thượng thư Bộ Lại vừa là cậu ruột của vua Thành Thái. Cụ Đào rất tài tình đã khéo chọn nhân vật lịch sử, một người tiết nghĩa, tên là Tiết Cương. Ca ngợi Tiết Cương để đông đảo người xem thu lượm được bài học làm người. Nhưng cụ Đào lại dùng tên nhân vật Cương để mắng vào mặt tên hiện ngồi sau lưng vua mà làm mật thám cho Tòa khâm sứ Tây.
Phan Bội Châu cười, Nguyễn Sinh Sắc càng vui câu chuyện:
- Anh và tôi, chúng ta đều hiểu chuyện Tiết Nhân Quý là cha Tiết Đinh Sơn, cả hai cha con đều làm quan to, thuộc bậc trung hầu nhà Đường. Nhưng bọn gian thần ghen ghét Tiết Đinh Sơn, dựng chuyện Tiết Đinh Sơn mưu phản nhà vua. Vua Đường liền bắt Tiết Đinh Sơn và vợ là Phàn Lê Hoa, khép tội “tru di tam tộc” (như Nguyễn Trãi dưới thời triều hậu Lê của ta – Phan Bội Châu nói xen). Tiết Cương là con Tiết Đình Sơn trốn thoát được, đã lên núi lập một đảng, kiểu anh hùng Lương Sơn Bạc, chống lại nhà Đường. Sau khi giết vợ chồng Tiết Đình Sơn, vua Đường còn gia tội: “thiết khâu phần”. Tiết Cương từ trên núi đã đưa đồng đảng về phá “thiết khâu phần”, giải thoát cho linh hồn cha mẹ mình. Cụ Đào chọn cái điểm này, điểm góc cạnh của câu chuyện để nói cái ý tứ của mình. Cụ đã dựng một cảnh đang đêm, tên lính hốt hoảng chạy vào báo với Tiết An, viên quan trấn thủ “Cấp báo…cấp báo…tên Cương về phá thiết khâu phần”. Viên quan tấn thủ liền hỏi: “Thằng…. Cương…nào?”. Tên lính luống cuống thưa: “Dạ .... Một …. thằng …. Cương …. đó .… đã làm khổ…thiên…hạ…rồi…Quan…còn…muốn…mấy …thằng…Cương…nữa…?” Chi tiết này không ăn nhập với nội dung vở tuồng, lại được đay nhấn trong đối thoại, lại nói bóc trần ra, không chút màu mè văn vẻ gì.
Phan Bội hâu tấm tắc:
- Tuyệt. Rất tuyệt! Đường roi của tác giả trong vở tuồng rất rõ mà vẫn khép kín được
Hai người lại nhấp tí rượu. Côn lại rót tiếp đầy hai chén bạch định. Phan Bội Châu hơi băn khoăn nói với Côn:
- Khuya rồi mà cháu cứ thức đuổi theo chén rượu của cha và chú à?
- Thưa chú, dễ chi có được một dịp cha cháu hầu chuyện chú để cháu cũng được hầu rượu ạ.
- Trẻ thơ như cháu mà “đôn hậu dĩ sùng lễ” (bề dày của phúc là trọng điều lễ).
Nguyễn Sinh Sắc nói chậm rãi:
- Có sẵn gánh tuồng trong tay Đào Tấn cho diễn liên tiếp vở “Tiết Cương tế thiết khấu phần” tại Bình Định. Tiếng vang của vở tuồng khắp Bình Định và mau chóng truyền rộng cả xứ Quảng. Chi tiết “Một thằng Cường đó đã làm khổ thiên hạ rồi…còn muốn mấy thằng Cương nữa?” được bàn tán sôi nổi trong giới quan trường. Tiếng gian ác của Trương Như Cương tại triều đình Huế bấy lâu chỉ rỉ tai trong một số quan thanh liêm. Lần này, Trương Như Cương bị đông đảo khán giả vở tuồng “Tiết Cương tế thiết khấu phần” dị nghị. Nhiều người hả dạ, thầm cảm tạ quan Đào Tấn đã nói họ cho hộ cho mình. Những tên mọt dân, những tên cõng rắn cắn gà nhà rất muốn kiếm chác nhân chuyện vở tuồng này, nhưng chưa tìm được cơ hội để thỉnh vào tai Trương Như Cương. Nhưng, ngôn dực trường phi (lời nói có cánh bay xa) tiếng tăm của vở tuồng “Tiết Cương tế thiết khấu phần” đã thấu tai vua Thành Thái. Dĩ nhiên cũng đến cả tai Trương Như Cương. Thành Thái liền triệu Án sát Đào Tấn về triều với cả gánh tuồng, vở diễn “Tiết Cương tế thiết khấu phần”. Những người thân của Đào Tấn, bằng hữu của Đào Tấn, các đồng liêu của Đào Tấn đều lo cho số phận Đào Tấn trong chuyến về kinh bệ kiến này! Đào Tấn cũng lo, nhưng cụ lo lập ngôn tự ngã để giữ cho được kẻ sĩ trước uy vũ.
- Hay lắm – Phan Bội Châu nói – “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Là kẻ sĩ thì phải làm như vậy! – Nguyễn Sinh Sắc tiếp:
- Các đào, kép trong gánh tuồng lo lắm. Nhưng họ cũng tin theo người thầy tuồng của mình. Họ cũng cam kết: thuyền đắm cũng cứu lấy thuyền hoặc cùng chết theo thuyền. Cụ Đào Tấn và gánh tuồng của mình về Kinh hôm trước, hôm sau quan thị lang bộ Lễ đã báo ngày, giờ vào Duyệt Thị Đường (nhà hát của Vua) diễn tuồng “Tiết Cương tế thiết khấu phần” , vua Thành Thái sẽ ngự lãm và các quan đại thần xem. Giờ khắc này vẫn còn có một số bạn đồng liêu của quan Đào Tấn khuyên với cụ nên bỏ câu hỏi “Thằng Cương nào?”. Đào Tấn bình thản trả lời: “Tôi đã viết ra nhân vật, tôi có bổn phận với nhân vật của tôi. Và gánh hát của tôi đã diễn trước dân chúng xem thế nào thì lại cũng diễn trước Vua như vậy”.
Hai kép đóng vai quan trấn thủ địa phương và vai lính cấp báo có tên Tiết Cương về: “phá thiết khấu phần” sắp đến lúc diễn còn hỏi lại cụ Đào Tấn: “Thưa thầy, chúng con vẫn cứ lôi “thằng Cương” ra trước mặt tên Cương tại sân khấu cung đình ni chứ thầy?”
Đào Tấn cười căn dặn họ: “Chúng ta là phận con hát, vì sự mua vui của mọi người. Anh em cứ bình tâm làm trò xứng với vai trò của mình”.
Nhà hát Duyệt Thị Đường quan khách ngồi kín chỗ theo thứ tự phẩm tước. Vua Thành Thái ngự ngai, cầm roi chầu. Trương Như Cương ngồi ghế bành voi bên cạnh Vua. Tác giả Đào Tấn ngồi hàng ghế phía sau, gần cuối cùng. Không khí buổi biểu diễn khá trang nghiêm càng gây sự hồi hộp, thấp thỏm cho tác giả và các kép hát. Đây là lần đầu tiên cả thầy, cả trò trong gánh hát tỉnh lẻ đặt chân lên cái sàn diễn trong cung cấm này. Tất cả các quan trong triều ngồi xem đều nghe tiếng nội dung của vở tuồng Tiết Cương của Đào Tấn “có chuyện động trời” nên Vua Thành Thái đích thân cầm roi chầu để “thưởng phạt”!
Vở diễn càng đến phần Tiết Cương xuất hiện, sự hồi hộp trong người xem càng tăng. Đào Tấn thấy hàng trăm con mắt ở các phía nhìn mình. Vai Tiết An quan trấn thủ địa phương ra sân khấu. Tiếng trống chầu chào của Vua điểm, Đào Tấn gần như nín thở. Quan khách đều ngẩng đầu cao lên. Vua Thành Thái đang ngồi tự tại, Trương Như Cương tựa tay lên thành ghế, đỡ lấy cằm, đầu xáp gần phía Vua. Từ màn sau, tên lính chạy ra sân khấu, một chân co, một chân quỳ, chắp tay bẩm báo giọng hơi run:
- Cấp báo…cấp báo có tên Cương về phá thiết khấu phần.
Quan trấn thủ cũng hơi run:
- Thằng Cương nào?
- Dạ bẩm! Một thằng Cương đó đã làm khổ thiên hạ. Quan còn muốn có mấy thằng Cương nữa?
Vua Thành Thái gõ vào tang trống ba dùi “cắc, cắc, cắc” Trương Như Cương nhấc đàu ra khỏi bàn tay hắn và ngồi ngây người, mặt thẳng cán tàn. Qua khách càng bồi hồi. Đào Tấn cảm thấy như hàng trăm mũi gai châm khắp người. Ba tiếng “cắc, cắc, cắc” là biểu thị Vua nghe chưa thật rõ. Phải hát lại. Anh kép sắm vai lính đã mạnh dạn hơn lên, rống to:
- Cấp…báo…. Cấp…báo….có tên…Cương…về…phá…thiết khấu phần.
- Thằng…Cương ….nào?
- Dạ…. bẩm… một… thằng…. Cương… Cương… đó… đã… làm… khổ… Thiên... hạ….. Quan….. còn…. muốn…. có…. mấy…. thằng….. Cương…. nữa!
Quan khách, kép hát, tác giả nén hơi thở căng bỏng! Trương Như Cương run bần bật, toàn thân như con vật thui trên lửa. Vua Thành Thái nâng dùi trống lên nhìn chếch sang Trương Như Cương đánh liền ba tiếng chầu khen ngợi! Tiếng cười tán thưởng và hả dạ đổ rào rào như trận mưa giông đầu xuân.
- Tài tình lắm! Thành Thái tài tình lắm! – Phan Bội Châu giọng sảng khoái, vừa nói vừa nâng chén rượu ngang mày – chúng ta cạn chén rượu nầy mừng thầy tuồng Đào Tấn và các đào kép gánh hát của cụ. Chúng ta tỏ lòng kính bì một hành chỉ cao thượng của Đức vau Thành Thái.
Hai người trầm ngâm soi mắt vào đĩa đèn đã sắp cạn dầu, ngắn bấc. Côn lễ phép khoanh tay trước cha và Phan Bội Châu:
- Thưa cha, con đã trải chiếu, đặt gối xong, con mời cha, mời chú…- Côn chưa nói hết câu Phan Bội Châu vì quá cảm kích đã trả lời ngay:
- Chú khen cháu, hay nói đa tạ cháu…đều vô nghĩa cả. Cháu đáng lẽ “kim nhật cát ngũ thành ”, chắc chắn sẽ là “minh nhật cát thập thành” (hôm nay thành năm, ngày mai thành mười)
Anh Sắc nhìn con âu yếm:
- Con đi ngủ được rồi. Cha sẽ mời chú San lên giường nghỉ ngay bây giờ đây.
Phan Bội Châu cởi khăn, cởi áo dài khoắc lên cái móc hình con bướm đính trên cột nhỏ. Anh cử Sắc khơi to ngọn đèn rọi ánh sáng cho Phan Bội Châu đi vào giường nghỉ, anh nói thêm với bạn:
- Đức Thành Thái là một ông vua có học vấn và yêu thích nghệ thuật tuồng của triều Nguyễn. Việc Đức vua ngữ lãm cầm trống chầu để rồi khen vở tuồng Tiết Cương của Đào Tấn, ngầm nhắc cậu mình “phải vừa vừa chứ cháu cũng không bênh nổi cậu đâu”. Đó là nhân cách của một kẻ sĩ, đâu phải sự ban thưởng của ông Vua. Phải không anh?
- Phải. Thành Thái xem tuồng với tư cách một thức giả chứ không hẳn là một hoàng đế, anh cử ạ.
- Quả sau lần diễn tuồng Tiết Cương ở Duyệt Thị Đường cụ Đào Tấn được phong từ Án sát lên Bố chánh. Cụ còn được vời về Kinh đô bổ nhiệm chức Hiệu thư, chuyên biên soạn các vở tuồng, sau đó không lâu, cụ được thăng Tổng đốc…
Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc cùng buột ra một tiếng thở dài giữa đêm trường.
PHẦN 8
Quét sân xong, Côn tưới nước cho các cây cảnh. Côn đứng ngắm khóm trúc lá rụng trải lưa thưa quanh bụi hoa dạ hương. Những giò huệ đang nhú lên giữa các kẻ lá mềm mại như lông đuôi gà. Một bông hoa lài trắng muốt ngậm sương long lanh. Côn hái bông lài chạy vào cài lên tóc mẹ:
- Côn ướp hương lài cho tóc mẹ thơm, mẹ nhá!
- Con để vô lọ trà của cha. Cha con thích uống trà hương lài mà.
- Còn nhiều bông sắp nở, con sẽ hái ướp trà cho cha. Còn bông này chỉ để ướp tóc mẹ thôi.
Chị cử Sắc vẫn đưa thoi thoăn thoắt. Bé Côn lấy cái gương ở trên đầu giường mẹ, giơ ra phía trước, xáp đầu mình bên đầu mẹ nói:
- Mẹ ngắm xem bông lài nở trên đầu mẹ đẹp tuyệt trần.
Chị Sắc cười:
- Để mẹ dệt chứ ngắm với nghía, trau chuốt hoa hòe hoa sói rồi lấy chi mà ăn, hả con?
- Thì mẹ nói một tiếng đẹp hay không đẹp để bõ cái công con hái hoa tặng mẹ đã!
Chị cử Sắc lại cười:
- Hoa con hái đẹp lắm. Mẹ xấu xí lắm.
Côn nũng nịu:
- Ôi mẹ của con rất đẹp. Hoa lài con chỉ to tóc mẹ đẹp thêm thôi…
- Rứa là con chưa hiểu tục lệ chơi hoa, con ạ.
Côn chớp chớp mắt hỏi mẹ:
- Mẹ nói cho con được biết cái tục lệ chơi hoa đi mẹ
- Hoa lài thường nở về đêm. Các cụ thường ví những hoa thơm về đêm như những người con gái không đoan trang, không đứng đắn. Có câu ca là: “Dẫu thơm dẫu đẹp hoa lài, đàn bà con gái chớ cài lên khăn”!
Côn nhìn bông hoa lài do tay mình vừa cài lên khăn mẹ, vẻ lúng túng băn khoăn! Côn gỡ bông hoa ra khỏi tóc mẹ, ngắm một cách tha thiết, trìu mến. Côn nói thủ thỉ:
- Mẹ ơi, cái tục lệ coi bông hoa lài như cô gái không đứng đắn, nó thế nào ấy? Lại còn gán cho những người đàn bà con gái cài hoa lài lên khăn cho thơm cũng bị coi là người hư hỏng? Sao các cụ, các thầy lại thích uống trà ướp hoa lài? Ồ! Tục lệ ấy ngẫm thấy không hay mà còn dở nữa mẹ ạ.
Côn cài lại bông lài lên tóc mẹ. Chị cử Sắc giọng vui, tay vẫn đưa thoi:
- Đúng là cha nào con ấy.
- Điều con ngẫm nghĩ thấy cũng hợp ý cha, hả mẹ?
- Cha con rất ưa hoa lài, thường bỏ hoa vô túi áo cho mẹ
Côn thích thú sửa lại bông lài trên tóc mẹ:
- Mẹ ơi. Con làm xong công việc rồi. Con xin phép mẹ đến nhà Quang một lúc, mẹ nhá.
- Anh con đã đi với trò Tuấn, con ở nhà để có việc chi mẹ nhờ chứ.
- Con đã hứa với mẹ tối qua: Sáng nay con quét dọn nhà cửa, sân vườn rồi mẹ cho con đi chơi đến chừng nấu cơm trưa thì về. Con đi một lúc thôi, con sẽ đúng hẹn về thổi cơm để cha kịp ăn vo Giám ạ.
Chị Sắc gật đầu dặn thêm:
- Đến nhà bạn chơi, lúc về con nhớ ghé mua ớt và dấm, mẹ sẽ làm món nộm hoa chuối cho mà ăn
Côn chạy tâng tâng ra ngỏ, cầm theo cái lọ và mấy đồng tiền Gia Long, Minh Mệnh trong tay. Bất chợt, Côn cảm thấy nỗi lo bồn chồn choán hết trong đầu: “Mình đi bày chữ cho Xển Văn học mà cứ nói quanh, giấu cha mẹ? Dối cha, dối mẹ, lỗi nặng lắm! Cầu mong Xển Văn chóng biết để mình thưa chuyện với cha mẹ….”
Chị cử Sắc dừng tay thoi nhìn theo con đi khuất dần sau hàng cây hoa dâm bụt. Chị cũng cảm thấy: Gần đây bé Côn hay xin phép đi chơi phía nhà trò Quang. Có lúc đi cùng với anh, nhưng phần nhiều nó đi chơi một mình? Nhưng Côn là đứa con ngoan nhất, từ lúc lọt lòng đến khi biết cầm bút, biết đọc sách nó chưa lần nào nói dối cha mẹ, nói dối anh chị trong nhà hay bạn bè cùng tuổi với nó. Chắc nó không làm việc để cha mẹ buồn phiền. Ngày mới lên bốn tuổi, nó đã học lõm, nói chữ một câu: “Nhất ngôn trúng, vạn ngôn dụng” cả nhà cười ầm lên. Khi bà ngoại hỏi nó: “Cháu giải nghĩa cho bà nghe coi”. Nó nói luôn: “Thưa bà, một lời nói trước đã đúng, thì bao nhiêu lời nói sau ai cũng tin ạ.” Cả nhà đều ngạc nhiên…
Chị cử sắc nhìn sang gian nhà ngoài. Mắt mơ màng. Chị định hỏi chồng về việc bé Côn thỉnh thoảng đi chơi. Chị ngập ngừng rồi thôi vì thấy chồng đang chăm chút viết. Dáng ngồi tự tại. Mắt đưa theo ngọn bút chuyển động trong bàn tay măng búp. Chị lại đưa thoi. Tay chị dệt vải, mắt chị dâng lên lớp lớp những ảnh hình in theo tâm trí theo năm tháng. Trong tai chị cứ văng vẳng những âm thanh xa thẳm quen thuộc: “Loan này. Mừng cho mày lấy được chồng là anh nho, anh cử. Sang nhất làng Chài đó”. Chị mỉm cười với mình. “Mày có nhận ra là anh nho Sắc đẹp trai nhất đám trai làng mình không hở Loan?” – Thường thôi! Loan trả lời với các bạn gái câu ấy để khỏi bị trêu! Nhưng các bạn vẫn không buông tha: “Chớ có dối lòng Loan ạ. Chồng mày có đôi mắt phượng, mày ngài, mũi dọc dừa, miệng chữ tứ, bàn tay gắc, ngón búp măng…Cái ngày võng anh đi trước, võng nàng theo sau đang đến với mày đó, Loan ạ…” Lời trêu của bạn gái khiến mình bồi hồi nhớ lại cái ngày cha đón anh Sắc về nhà, một cậu bé, mặc cái quần ngang đầu gối, áo năm thân nhuộm nâu cũ, tay chân ngăm đen, khuôn mặt tươi tắn, hai con mắt to đen láy như hột nhãn. Loan đứng ngấp ngé trong cửa nhà bếp nhìn lên nhà lớn, nghe cha nói với mẹ: “Như đã bàn bạc với bà, nay tôi đưa nó về. từ giờ nó là con của chúng ta, là học trò của tôi. Bà hãy căn dặn nó ngay đi”. Anh Sắc ngập ngừng cúi xuống đứng như pho tượng. Mẹ cầm tay cậu bé hỏi mặc dầu mẹ biết rõ tông tích: “Tên chá…à quên, tên con là gì?” – Anh Sắc hơi run: Con là Nguyễn Sinh Sắc – Mẹ lại hỏi: “Con cháu nhà ai nào?”
- Dạ. Con…con là…con thứ của ông Nguyễn Sinh Nhậm. Mẹ của con là Hà Thị Hy, vợ kế của cha con.
- Mẹ hỏi con để nhắc con luôn nhớ đến người sinh thành ra mình chứ mẹ biết rõ cội nguồn của con rồi. Người đẻ ra con là một co gái nhan sắc, tài hoa, cả cái xứ ni mấy ai sánh nổi. Đẹp như một ngọn đèn. Nếu các cụ không sớm mất thì con không khổ đâu. Cha mẹ đẻ ra con có cả ruộng cả ao liền để lại, nhưng ở với chị dâu, em chồng khó có được cơm lành canh ngọt; anh trai của con lại cùng cha mà khác mẹ. Dĩ nhiên, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng bác Thuyết gái là người dữ tính, dữ nết cho nên con về đây ở với cha mẹ, có cơm ăn cơm, nhược bằng phải ăn cháo, chúng ta cùng chia sớt cho nhau. Cha mẹ đây nỏ có con trai. Con sẽ được ăn học. Cha con sẽ dạy cho con học. Nghe cha con và thầy đồ Vương nói con rất sáng dạ. Quý hóa lắm. Mẹ sẽ cho con đi học, khi cha dạy cạn vốn chữ thì mẹ sẽ cho con đi tìm thầy học thêm nữa. Mẹ cũng đang lo cho em Loan học chữ với cha. Nó cũng sáng dạ, học được chữ Thánh hiền đó. Nhưng là gái, dẫu văn hay chữ tốt cũng nỏ được ai coi trọng. Cho nên, cha mẹ chỉ cho nó học để khỏi chịu cái phận: có mắt mà như mù. Loan mô…mô rồi – Nghe tiếng mẹ gọi, mình đang tựa cửa bếp giật nẩy mình, đáp lại một tiếng “dạ” mà như đánh rơi mất cái vật gì đó khỏi bàn tay! Lên đây mau – Mình khép nép đứng sau lưng mẹ, nỏ dám nhìn cha, nỏ dám nhìn anh Sắc. Anh Sắc cũng chỉ nhìn xuống bàn chân, mấy ngón chân cụ cựa, bấm gí vào nền nhà. Mẹ nói với mình nhưng mẹ vẫn nhìn anh sắc: “Từ bữa ni cha mẹ có thêm một nguười con, cha của con có thêm một người học trò nối chí, con có người anh. Rứa là nhà ta càng ấm cúng. Mẹ dặn các con phải trên kính dưới nhường, anh cho ra anh, em giữ đạo em. Cha các con là thầy đồ, mẹ đây cũng sinh ra từ mộ gia đình nhà nho, mẹ cũng học được võ vẽ dăm ba chữ. Các con đang học chữ. Rứa là một nhà mọi người đều biết chữ, vừa có gia phong vừa có gia giáo”….
Sự ngượng ngùng, bỡ ngỡ tan biến rất nhanh chóng. Ngay cái hôm đầu tiên về làm con trong nhà, anh Sắc đã xuống bưng nồi cám cho lợn ăn. Mình chưa dám nói chi, mẹ giữ tay anh Sắc lại, anh Sắc vẫn xin mẹ làm việc nhà, đỡ đần cho mẹ. Dần dà cả nhà đều yêu quý, đều mến anh Sắc. Anh học giỏi trội lên nhất trong trường của cha. Buông sách bút, không để rỗi tay, không đợi sai bảo mà tìm ngay việc để làm. Từ công việc rửa bác, quét nhà, gánh nước anh đều làm tất. Năm lên mười lăm, anh tự vác cày đánh trâu ra đồng cày ruộng. Mẹ nhất định không để anh đi cày e mang tiếng: “nuôi con nuôi để lấy công cày chứ đâu phải cho ăn học”. Nhưng cha nói: “Con nó đã có cái tâm làm mọi việc không quản nhọc nhằn, không tính đến việc sang việc hèn thì cứ để con nó làm. Học và hành cùng giỏi thì mới nên người”. Mẹ cười, nói trêu anh ấy: “Con là học trò nhưng không bị cái tiếng “dài lưng tốn vải an no lại nằm” như câu ca con ạ”. Thấm thoát tám năm trôi qua như con thoi trên bàn tay mình, anh Sắc lên tuổi mười tám, mình vào tuổi mười ba. Một buổi tối, cái buổi tối ấy của ngày tháng chạp năm Canh Thìn (1880) mình đang dệt vội cho xong tấm lụa để mẹ may hai bộ đồ mặc Tết của cha và anh Sắc. Nghe cha gọi đến bên án thư, bụng lo lo, hồi hộp. Mình đứng khoanh tay, lưng tựa vào gốc cột. Cha nói như truyền lệnh: “Mấy năm nay cha đã nghĩ, đã tính đến việc trăm năm đôi lứa cho con”. Mình đứng không vững nữa, nhờ có gốc cột mà cha không thấy mình đang run lên như người vừa dầm nước ở dưới ao giữa ngày đông tháng giá. Cha nói, giọng rất nghiêm: “Cha đã bàn bạc kỹ việc hệ trọng ni với mẹ con rồi. Cha đã từng dạy nhiều lớp học trò, có gặp được đôi ba học trò thông sáng như anh Sắc của con. Nhưng cái tâm, cái chí, nghĩa là về mặt đức hạnh thì hiếm thấy trò nào như anh Sắc của cha, làm bạn đời với con thực sự là phu xướng phụ tùy, mãn nguyện cho đến ngày đầu bạc răng long. Vậy thì, chỉ có Nguyễn Sinh Sắc chứ không thể là ai khác. Ý con ra sao, nói cho cha biết?”
Đột ngột quá. Còn thơ dại quá. Lời cha nói ra là đinh đóng cột rồi. Mình chỉ biết cha sinh mình ra, cha là thầy học dạy chữ cho mình. Cha là tất cả. Ý cha là ý trời. Duyên số mình đều là do trời xui đất khiến cả. Mình chỉ hé môi: “Con nghe lời cha mẹ”. Cha cười hiền từ mà mình bối rối. từ cái khoảnh khắc ấy mình chẳng dám đến gần anh Sắc, chẳng mấy chốc, cả làng Chùa đồn rinh lên như một tin hệ trọng: Thầy tú Hoàng Xuân Đường gã o Loan cho cậu nho Sắc. Nhiều người khen: Ông bà tú ăn ở nhân đắc hiếm có trên đời, đã đón một đứa không cha không mẹ về cho ăn học, lại gả luôn con gái quý cho nữa…Cũng không ít người dị nghị: Nho sắc dẫu có là là người trong rừng Nho, bể Thánh thì cũng không phải là môn đăng hộ đối với nhà ông tú Hoàng Xuân Đường. Còn các bạn gái thì đón đường để trêu mình: Anh nho Sắc hay chữ, đẹp trai, nên mi xúy phần sớm kẻo người khác vồ mất phải không Loan? Các cụ trong họ Hoàng thì sôi sục lên: Bác tú là người trưởng tộc, không thể chấp nhận cái việc bác tú gả con gái đầu lòng cho một chàng trai ở làng khác lại côi cút nữa chứ? Một ngày có tới mấy ông chú bà o, những người trưởng chi đến ca thán với cha mẹ mình, can ngăn đừng gả mình cho anh Sắc. Lúc cha mẹ mình hỏi lại: “Nho Sắc có điểm chi đáng chê trách?” Các ông chú bà o chỉ cười trừ, chống chế vài câu: Cậu nho Sắc là người văn hay chữ tốt, lại cày sâu cuốc bẫm chẳng khác chi một lực điền, phẩm hạnh cao. Tiếc rằng làm rể ồng tú họ Hoàng ni thì nó không cân xứng về mặt gia thế…Cha đã họp cả họ Hoàng lại. Trước họ hàng cha nói với một phong độ ôn tồn như khi kể chuyện cổ tích cho con cháu nghe: “Thưa các bậc thúc phụ, hiền huynh trong họ. Cả họ ta băn khoăn lo lắng về việc tôi gả con gái đầu lòng cho anh nho sinh Nguyễn Sinh Sắc vốn là con nuôi, là học trò giỏi của tôi. Vì tôi là người được cả họ coi là hàng tai mắt, lại không có con trai nối dõi tông đường. Tôi xin bái tạ dòng họ đã vì tình gia tộc mà quan hoài tới việc trăm năm của cháu Loan. Tôi gả con gái yêu quý của tôi cho người học trò yêu quý, tin cậy của tôi thì chẳng có chi trái đạo gia phong, vọng tộc. Tôi xin kể cho họ hàng nghe một câu chuyện tình duyên lưu truyền trong sử sách: Đời nhà Trần có quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Chức Tư đồ ngày ấy là Tể tướng. Quan Tư đồ Trần Nguyên Đán có một người con gái rất thông minh, hiếu học tên là Trần Thị Thái. Quan Tư đồ đã mời thầy về dinh dạy cho con gái học. Người thầy học ấy là một hàn sĩ nổi danh văn chương từ nhỏ, đích thị Nguyễn Phi Khanh, đỗ Bảng nhãn khoa Ất Sữu (1375) đời vua Trần Duệ Tông. Lúc Nguyễn Phi Khanh vào dạy học trong dinh, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán thừa hiểu cái luật lệ hà khắc của nhà Trần là các quan thuộc họ Trần thì tuyệt nhiên không được lấy vợ người khác họ. Những người khác họ có khoa bảng hoặc làm quan dưới triều Trần cũng tuyệt nhiên không được lấy vợ người họ Trần. Thế nhưng, Trần Thị Thái và Nguyễn Phi Khanh, do sự gần gũi giữa thầy và trò như lửa gần rơm, hai người đã thương nhau. Sự thương nhau ấy đã dẫn tới hậu quả: Trần Thị Thái mang thai. Nguyễn Phi Khanh sợ hãi trốn khỏi dinh quan Tư đồ. Trước khi trốn Nguyễn Phi Khanh cho Trần Thị Thái biết một nơi ông ẩn náu tại kinh đô Thăng Long để liên hệ khi có điều lành điều dữ. Còn Trần Thị Thái thì khóc với mẹ, trần tình với mẹ việc mình đã dở dang…Con nhà thường dân có hoang thai còn bị làng phạt, gọt đầu, bôi vôi, cha mẹ phải ra chịu phạt, nộp phạt trước chiếu làng, huống hồ đây lại là chuyện con gái quan đại thần thuộc hoàng tộc. Trần Thị Thái xin mẹ đừng cho cha biết chuyện này. Để khỏi mất thanh danh của một thế gia vọng tộc, Trần Thị Thái xin lạy tạ mẹ trước khi bỏ đi khỏi nhà sẽ cải họ đổi tên, sống thì tự làm nuôi thân, chết cũng đành một phận. Bà Tư đồ sợ con gái làm điều liều thân, khuyên giải và đưa con gái về quê ngoại giấu, rồi đánh tiếng là “công nương ngọc thể bất an, phải đi tịnh dưỡng”. Bấy giờ bà mới kể lại sự tình với chồng lúc thanh vắng. Quan Tư đồ Trần Nguyên Đán bàng hoàng! Ông cho gọi con gái ngay lúc canh ba ấy. Nhưng bà thưa với ông việc mình đưa con gái đi xa. Bấy giờ ông mới biết Nguyễn Phi Khanh cũng đã bỏ trốn. Quan Tư đồ bắt vợ phải đưa con gái về ngay. Bà sợ ông sẽ không tha tội chết cho con, vì ông là người được cả họ, cả triều đình vị nể đức tính trung chính và cốt cách thanh cao. Bà phải trần tình mãi, xin ông tha chết cho con gái để nó được sống tha phương cầu thực. Ông liền nổi nóng: “Phu nhân muốn tôi uống thuốc độc trước mặt phu nhân hay muốn con gái chúng ta về nhận tội tại nơi phu nhân chôn nhau cắt rốn cho nó?”. Bà Tư đồ không còn cách nào khác, đành đón con gái về, và bà đinh ninh con gái bà sẽ phải chịu trọng tội theo phép tắc của hoàng gia. Khi Trần Thị Thái về dinh, quan Tư đồ đốt hương trầm trong phòng ông. Bà Tư đồ dẫn con gái vào quỳ trước mặt ông. Bà ngồi bên ông ôm mặt khóc. Trần Thị Thái nức nở gục đầu xuống thảm nhung. Quan Tư đồ Trần Nguyên Đán nghiêm giọng: “Con lạy năm lạy trước bàn thờ gia tiên!” Trần Thị Thái cung kính làm theo lời cha. Ông lại nói: “Con lạy cha mẹ ba lạy!” Trần Thị Thái y lệnh cha. Bấy giờ quan Tư đồ mới nói giọng khoan dung: “Con được phép ngồi lên ghế”. Quan Tư đồ chỉ giáo cho con: “Theo lệ phép của hoàng gia, gia phong của nhà ta, con đã phạm trọng tội. Một là, con gái hoàng gia, cha là hàng đại thần mà lại đem lòng ký thác cho người con trai khác họ. Hai là, đương thụ giáo mà con lại yêu đương với thầy học của mình. Ba là, chưa thành vợ thành chồng mà con đã mang thai là “bất đoan chính”. Như vậy tội của con nặng lắm. Cha xét thấy tội con tuy nặng thật, nhưng không phải làm điều phản quốc, hay phản nghịch triều đình, không phải tội vu oan giá họa cho người để mưu lợi cho mình. Cha rất trọng Nguyễn Phi Khanh, một bậc tài cao đức cả. Lòng cha thương con không để đâu cho hết. Vì vậy cha chỉ có một quyết định gả con cho Nguyễn Phi Khanh”. Bà Tư đồ còn ngờ ngờ tai mình nghe lầm, hỏi lại chồng: “Thưa tướng công, người vừa truyền điều gì với con?”. Quan Tư đồ nhìn vợ hiền từ nói: “Chúng ta phải nguyên lượng cho con trẻ. Chúng ta gả ái nữ chúng ta cho Nguyễn Phi Khanh. Con dại cái mang. Tôi sẽ đích thân lãnh phần trách nhiệm trước hoàng gia và giãi bày để mọi người cũng nguyên lượng như chúng ta. Vì Nguyễn Phi Khanh là bậc nhất nhì trong hàng đại đăng khoa, lẽ nào đứa bé mang dòng máu người hiền tài ấy lại không thành người hữu dụng? Biết đâu đứa cháu ngoại tương lai của chúng ta lại là người có tài kinh bang tế thế?”. Nói tới đó cha mình hình như nghẹ ngào: “Thưa bà con, lời tiên đoán của quan Tư đồ đã hoàn toàn chính xác. Người có tài kinh bang tế thế, đó là Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc đứng ở hàng đầu trong các triều đại. Và nỗi oan của ngài cũng lớn nhất trong lịch sử nước ta. Lịch sử còn ghi đó, lòng dân còn nhắc đời này qua đời khác…Thưa bà con họ Hoàng. Người xưa quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, sống cách chúng ta gần năm trăm năm mà còn “nguyên lượng” với lỗi lầm của con gái để dân tộc ta có được vị anh hùng Nguyễn Trãi. Lẽ nào đến cái đời này, đời chúng ta lại giữ lệ cổ hủ, tồi tệ, tàn bạo với tình yêu đôi lứa? Con gái Hoàng Thị Loan của tôi lấy nho sinh Nguyễn Sinh Sắc đâu có phạm gì đến gia pháp, gia phong của họ Hoàng chúng ta?” Cả họ ngồi im lặng! Rồi mọi người rút về dần. Việc ấy xảy ra tưởng chừng như mới hôm nào, vậy mà…đã gần hai chục năm!...cậu nho Sắc giờ là ông cử Sắc. Mình đã có ba mặt con!...
Chị cử Sắc bồi hồi, tay đưa thoi thỉnh thoảng con thoi tuột ra ngoài đường dệt. Chị lại nhìn ra gian nhà ngoài, thấy chồng đã đặt bút xuống án thư, vẻ mặt thư thái nhai trầu ngon lành. Chị ngắm kỹ lại gương mặt thanh tú của chồng. Cười thoáng. Chị bước đến ngồi xuống mé phản đối diện với chồng. Thấy vợ có chuyện gì muốn hỏi, anh cử Sắc vui vẻ đon đả ngay:
- Mình có chuyện chi à?
Chị cử Sắc đặt vào tay chồng thêm miếng cầu tiêm sẵn, giọng lo lắng:
- Nhà không để ý chứ gần đây bé Côn và cả bé Khiêm nữa lẻn ra chơi ngoài cửa Đông Ba, hay trong ngỏ chợ? Nhiều lần bé Côn đi một mình, hoặc đi với trò Quang, trò
Tuấn. Cũng có lúc bé Khiêm cùng đi với em.
- Mình không tra hỏi các con à?
- Có. Mỗi lần các con đi chơi ở phía ngoài đó về, tôi đều hỏi. Cả hai đứa dều nói ra sông Đông Ba đua thuyền mo cau, có lúc đi theo chú phó Tràng học vẽ, học khắc gỗ. Hôm mới rồi nó biểu đi xem Tây bắc cầu ngoài bến Nhà Tiền. Đôi lúc thấy con nó có vẻ lúng túng trong cách nói nữa.
- À! Tôi nhớ ra rồi! Có vài lần tôi thấy bé Côn chép bài học vào hai quyển? Nó chép như vậy để làm gì hề?
Vẻ mặt anh cử Sắc hơi tư lự. Chị cử Sắc giọng lo lắng:
- Con nó sớm khôn, mừng mà cũng lo!
- Bé Côn sớm có óc “kiến kim chi cổ”. Dầu vậy, nó có thể bị những đứa trẻ hư hỏng lôi kéo nó, cám dỗ nó.
- Lát nữa các con về nhà tra vấn ngay nhé.
Anh Sắc nhìn vợ cười, trao lại miếng trầu cho vợ:
- Mình cất đi, lát nữa cơm xong hãy ăn, nhai nhiều trầu rát lưỡi quá.
- Nhà…ch…ê….trầu…em….đó nha – Chị cử sắc nói trêu lườm yêu anh cử Sắc.
***
Khiêm, Côn về và đi thẳng lên nhà chào cha trước. Cỗn vẫn cầm cái lọ dấm và những quả ớt đỏ thắm đến chào cha. Anh cử Sắc nghiêm nghị:
- Hai anh em đi rửa tay chân rồi lên đây ngay.
Bước ra cửa, Côn nhìn Khiêm, Khiêm nhìn Côn vẻ lo lắng. Côn hỏi nhỏ anh:
- Chắc…có chuyện chi rồi anh ạ!
- Anh thấy thái độ cha có khác thật.
- Em lo quá!
Để Khiêm rửa chân tay trước, Côn chạy vào nhà bếp hỏi mẹ.
- Ở nhà có chuyện chi không vui mà bộ cha nghiêm lắm, mẹ ạ.
- Các con có làm việc chi không phải đạo với cha mẹ không mà lo lắng?
- Dạ…thưa mẹ…
Côn đang định nói gì thì Khiêm đã gọi em ra rửa chân tay.
Anh cử Sắc xếp gọn bút nghiên. Trước mặt một chồng sách cao: Lịch Triều Hiến Chương Loạn Chí, Ức Trai thi tập, Vân Đài Loạn Ngữ…Anh đặt tay lên cuốn scahs mở trang trên án thư, nói với hai con đnag từ cửa bước vào:
- Hai anh em ngồi vào ghế.
Khiêm ngồi phái trong, Côn ngồi phía ngoài. Khiêm hơi cúi đầu, hai tay đặt lên đùi mình. Côn nhìn lên phái cha, bàn chân di qua di lại trên nền nhà.
Anh cử Sắc giọng dứt khoát:
- Các con khoanh tay lại. Các con đang làm một việc, tại sao giấu cha mẹ?
Khiêm liếc nhìn sang Côn:
- Thưa cha – Côn đứng lên khoanh tay trước ngực, Khiễm cũng đứng lên theo em – Chúng con…thưa cha chúng con không làm việc gì có hại để cha mẹ mang tiếng ạ.
- Cha chưa hỏi các con làm sai hay làm đúng. Con phải trả lời vào câu cha hỏi;
- Dạ thưa cha – Côn lúng túng nhìn anh – chúng con….chúng con không….
- Không chi? Con làm mà sao không thể nói ra được?
- Thưa cha – Khiêm hơi run – Chúng con giấu cha mẹ việc dạy chữ cho bé Xển ở ngõ chợ ạ.
Anh cử Sắc đứng dậy đi chầm chậm trước án thư. Chị cử Sắc ở dưới bếp nhìn lên định xin cho các con được ăn cơm đã, nhưng chị đã kịp tự ngăn lại.
Anh cử Sắc ngồi lại chỗ cũ, giọng nói dịu hơn:
- Các con đã dạy chữ cho bé Xển ở ngõ chợ. Các con hãy nói lại sự việc ấy từ đầu cho cha nghe.
Côn thuật lại gia cảnh của bố mẹ Xển, nổi tật nguyền của nó, Côn kể tỉ mỉ về sự khao khát học chữ của bố bé Xển và ông đã chạy vạy tát bật xin cho con học mà không được. Anh cử Sắc tay tựa hẳn lên mặt án thư, ánh mắt nhìn đăm đăm ra vườn, tai lắng nghe tiếng nói chân tình của con. Anh xúc động hỏi con:
- Các con làm một việc cao cả, sao lại phải dấu cha mẹ?
Khiêm giọn run run:
- Nhà cu Xển ở ngõ chợ. Chúng con nghe mẹ nói trẻ con ngõ chợ thường hư hỏng, hay gây lộn, hay ăn quà vặt, đánh cò quay. Sợ cha mẹ cấm đi ra đó nên chúng con giấu, cha ạ.
Côn tiếp lời anh:
- Thưa cha. Con nghe lời cha thường dạy chúng con: “Tiên thành hậu thuyết” chớ có chưa làm mà đã nói. Con sợ nói trước với cha mẹ mà không dạy cho be Xển được đến đầu đến cuối thì có lỗi. Chúng con tính việc dạy cho nó học được kha khá rồi hãy thưa trình cha mẹ ạ.
Anh Sắc có phần hài lòng, giọng ấm:
- Cha tin các con. Nhưng các con đã phạm điều gì với cha mẹ nào?
- Thưa cha – Khiêm nói – Chúng con phạm lỗi chưa xin phép cha mẹ mà đã tự ý làm. Như rứa là “tiền trẩm hậu tấu” ạ.
Côn nói:
- Dạ thưa cha chúng con pha lỗi “tử bất kính phụ mẫu tại đường”. Đạo làm con đừng có làm việc gì để cha mẹ phải lo buồn.
- Thấy lỗi rồi các con tự nhận tội phạt thế nào?
- Thưa cha con tự phạt nhịn ăn hôm nay ạ. – Khiêm nhận
- Dạ thưa cha, con tự phạt nhịn ăn hôm nay và Tết này con cũng không được nhận phần áo mới của cha mẹ.
- Tại sao con lại nhận mức phạt nặng hơn anh con?
- Dạ, con xướng ra cái việc dạy chữ cho bé Xển rồi lại rủ anh đi và xui anh khoan hãy thưa với cha mẹ.
Anh cử Sắc giấu nụ cười sau ống tay áo. Anh nói giọng đằm thắm:
- Mỗi lần các con phạm lỗi, lòng cha mẹ buồn phiền. Nhưng cha mẹ đỡ lo lắng khi thấy các con biết nhận ra lỗi, biết tự xét lỗi của mình là đáng khen, là các con biết sửa chữa ngay. Cha cũng mừng là các con không đổ lỗi cho nhau, anh nhận phần lỗi của anh, em nhận phần lỗi của em. Đạo làm cha mẹ không nở nào lại phạt các con một khi các con đã nhận thấy lỗi và hứa sửa lỗi. Vậy thì, lần này cha nói với mẹ sẽ không phạt các con nhịn ăn một bữa, nhịn mặc áo mới ngày Tết như các con tự nhận. Riêng cái việc các con dạy chữ cho em Xển đáng khen, đáng thưởng. Các con chỉ có lỗi phần giấu cha mẹ trước khi làm. Các con có chữ, đã biết chia chữ cho em bé Xển tần tật. Cha sẽ thưởng cho hai anh em bộ sách Nhị Thập Tứ Hiếu, Minh Đạo Gia Huấn. Cha sẽ cho hai anh em được theo cha vô Đại Nội xem hát tuồng. Cụ Thượng Tấn đã mời cha.
Côn đứng phắt dậy: - Ôi, thích quá!....thích quá…được xem hát tuồng với cha!
- Côn! Ngồi xuống! – Anh cử Sắc nghiêm giọng – Cha chưa cho phép mà con đã tự ý đứng lên.
Côn ngồi xuống chỗ cũ, mặt buồn thiu. Anh cử Sắc dịu dàng nói:
- “Giáo tử anh hài”, các con còn thơ dại, cha mẹ phải uốn nắn ngay những cái sai nhỏ từ giờ, nếu không sẽ tích tiểu thành đại thì chỉ còn có than thở: “Tích ác phùng ác”. – Anh cử Sắc nói chậm rãi hơn: Vừa rồi bé Côn có nhắc với cha câu trong Luận ngữ: “Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du, du tất hữu phương”. Con hiểu ý câu này còn cạn nên mới giải thích là: Cha mẹ còn thì không nên đi xa nếu đi xa phải cho cha mẹ biết nơi con đến đó. Hiểu như vậy là đúng, nhưng không đủ nghĩa. Phải hiều là: lúc còn nhỏ ở với cha mẹ. con không nên đi xa chơi, nếu đi chơi đâu thì phải cho cha mẹ biết để đề phòng khi có sự bất trắc mà tìm đến. Còn khi các con lớn rồi, đã trưởng thành thì cha mẹ phải để cho các con đi đây đi đó vẫy vùng thỏa chí nam nhi chứ? Con rõ chưa?
- Dạ thưa cha, con rõ rồi ạ.
Anh cử Sắc nhìn hai con, mắt đượm nhân từ:
- Các con đến nói với cha mẹ cháu Xển, là cha nhận dạy cho bé Xển học.
Khiêm, Côn nhìn cha như nhìn một vị tiên ông từ trong tưởng tượng bước ra.
PHẦN 9
Khói bếp tỏa vào sương tan. Khói sương bịn rịn mái nhà tranh và ửng hồng hàng cây lé nắng. Mấy con bồ câu phơi lông bên góc sân im ắng. Thỉnh thoảng từ gian nhà bếp hắt ra tiếng cạch…cạch của anh phó Tràng đang đóng giá sách cho thầy cử Sắc.
Học trò ngồi im phăng phắc, hướng về thầy. Anh cử Sắc chít khăn lượt, đụm tóc xanh mượt, cài chiếc lược đồi mồi cong vành nguyệt. Nếp áo dài thâm phủ quá đầu gối, hai ống quần trắng rộng thùng thình chấm mũi guốc cong cuốn, xỏ quai hình chữ nhật từ kẻ ngón chân cái vắt qua mu bàn chân, xâu xuống đế gót.
Tiếng thầy cử Sắc trong như chuông đồng. Đám học trò thu nhận lời thầy cử bằng ánh mắt, cả toàn thân như tan biến vào dòng tư tưởng của thầy giảng sách. Anh phó Tràng cũng sững sờ buông tay đục, nghiêng đầu xuống nhẩm nhớ đôi ba câu thầy cử Sắc giảng…. “Hiện giờ các trò đang tuổi vị thành niên, những điều thầy giảng ngày hôm nay, các trò nhớ kỷ để sau này, khi các trò trưởng thành sẽ ngẩm nghĩ ra mà hiều thêm mà làm lấy đôi ba việc có ích. Sách Luận ngữ dạy rằng: Bách tính bất túc, quân thục dữ túc. Nghĩa là trăm họ, tức nhân dân còn đói khát thì nhà vua no đủ cùng ai? Nhưng các trò ơi, qua sử sách, ta hiếm thấy ông vua nào cùng ăn cháo với dân, mặc áo vá với dân, ngủ chõng tre với dân, gối bó rạ với dân!”
Càng về cuối bài giảng, tiếng thầy cử Sắc có sự dằn vặt, quằn quại và dạt dào tình cảm!...Chẳng những vua không cùng chia sẽ nỗi khổ với dân, mà sách Thánh hiền còn chỉ cho chúng ta rằng: “Cẩu trệ thực nhân thực, nhi bất tri kiểm, đồ hữu ngã biểu, nhi bất tri phát; nhân tử tắc viết: phi ngã giả tuế giả. Thị hà dị ư thích nhâm nhi sát chi viết: phi ngã giả bính giả! Binh giả”. Nghĩa là: con chó con lợn ăn mất các thứ của con người, trong khi dọc đường thây người chết đói la liệt mà không đưa của trong kho ra cứu đói. Thậm chí còn nói rằng có người chết đói không phải là tại ta, tại thiên tai mất mùa đó. Như vậy có khác nào cầm dao đâm chết người rồi đổ tại con dao! Sách Thánh hiền còn dạy rằng: “Bào hữu phì nhục, cứu hữu phì mã, dân hữu cơ sắc, dã hữu ngã biểu. Thử xuất thú nhi thực nhân giả. Thú tương thực, thả nhân ô chi. Vi dân phụ mẫu, hành chính bất miễn ưu suất thú nhi thực nhân, ô tại kỳ vi dân phụ mẫu giã” Thánh hiền dạy chúng ta cái điều gì ở những chữ ấy? Thầy hiểu rằng, chúng ta phải đặt ra câu hỏi ở các chữ ấy là: Tại sao bếp của vua quan có nhiều thịt béo, chuồng ngựa có ngựa béo, dân thì đói, thây người chết đói đầy đồng? Thế là đem thú vật ăn người. Các loài thú ăn thịt lẫn nhau, chúng ta coi là dã man. Vua quan là cha mẹ dân, thi hành đường lối chăn dân, tại sao còn để tình trạng thú vật ăn thịt người? Trách nhiệm cha mẹ dân ở đâu? Các trò ơi!
Từ những sách Thánh hiền dạy đến những sự việc rành rành giữa thanh thiên bạch nhật chỉ bảo cho chúng ta hiểu rằng: Đừng nghe theo những kẻ tự cho mình là đuốc soi đường cho dân chúng, mà luôn luôn gần người biết đi dưới ánh sáng của nhân dân.
Nguyễn Sinh Côn, đầu rung rung, trăn trở, mắt nhìn lên cha, nhìn sang các bạn Công Tôn Nữ Minh Huệ, Tôn Thất Tuấn, Diệp Văn Kỳ, Lê Thị Hạnh, Hồ Quang,…Mỗi học trò một dáng ngồi, luôn luôn chuyển động, sắc diện thay đổi theo sắc trí giảng bài của thầy.
Bỗng nhiên thầy cử Sắc dừng bài giảng, nhìn ra ngõ. Cả lớp cùng nhìn theo. Côn vội vàng đứng dậy khoanh tay thưa:
- Bẩm thầy cha mẹ em Xển Văn đến ạ.
- Con ra mời ông bà vào.
Cả lớp học vẫn ngồi im lăng, thầy cử Sắc nhắc nhở các trò:
- Thầy sắp ứng thí địa khoa, các trò phải nghỉ học một ít lâu. Những ngày nghỉ dịp đó, thầy sẽ ra bài để các trò học tại gia…
Côn đưa bố mẹ Xển vào sân. Côn chưa kịp thưa với cha, thầy cử Sắc cũng chưa kịp chào hỏi thì bố mẹ bé Xển liền quỳ ngay trước thềm váo lấy vái để. Thầy cử Sắc vội vàng chạy đến đỡ vợ chồng ông Xển đứng lên. Thầy cử Sắc giọng ái ngại:
- Răng ông bà lại coi cửa nhà tôi như chốn nha môn?
- Bẩm thầy – Ông Xển nói – Xin đội ơn thầy, vợ chồng tôi quỳ tạ ơn thầy. Còn chốn nha môn nếu có quỳ xuống chẳng qua là cái phận đành lụy kẻ cường quyền đó thưa thầy.
Bà Xển tay còn đỡ cái khay có phong chè, be rượu, giọng run run:
- Dạ…ạ phúc đức cho nhà con, thưa thầy….lạy các Thánh thần phù hộ, được thầy nhận dạy chữ cho cháu Văn của chúng con…
Thầy cử Sắc lắc đầu, khó nói. Bà cử Sắc ở đằng sau nhà bếp chạy lên, bà trách vợ chồng ông Xển:
- Hai bác làm một việc khiến chúng tôi ngượng quá. Hai bác chưa hiểu chúng tôi, chứ nếp nhà ni nỏ có khi mô có cái lệ ấy.
Bà cử Sắc đón vợ chồng ông Xển vào trong nhà. Thầy cử Sắc nói:
- Tôi sẽ dạy cháu Văn của nhà ông bà học. Ông bà hằng ngày đưa cháu lại đây. Giờ ông bà ngồi chơi, nhà tôi hầu chuyện ông bà. Tôi đang giảng sách cho học trò.
- Đa tạ thầy…Đa tạ thầy – Vợ chồng ông Xển chắp tay thưa rối rít.
Bà cử Sắc chìa cơi trầu tiêm ra mời vợ chồng ông Xển và mời anh phó Tràng. Anh phó Tràng tay cầm miếng trầu nói:
- Muốn có chữ, muốn nên người thì phải tôn sư, trọng đạo hai bác ạ….Tui là anh phó mộc, quen dùi đục chấm nước mắm, nghĩ răng nói rứa luôn.
- Nói giấu chi, có bà cử, có chú phó – ông Xển nói – Vợ chồng tôi chạy đến khắp cửa các thầy đồ, thầy tú, thầy cử ở cái đất thần kinh ni mà nỏ xin được học cho con. Quả là có phúc thì có phần. Cậu Côn làm phúc, khai tâm cho đứa con què quặt của vợ chồng tui. Mô ngờ lại còn được thầy cử mở lượng hải hà cho con tui được đến trường của thầy – Bà Xển tiệp lời chồng. – Thiệt đội ơn thầy, đội ơn bà cử, phúc đức quá. Thầy và bà đẻ được cậu Côn là người trên tiền, người nhà trời mới sớm giỏi giang, đức hạnh như rứa.
Bà cử Sắc vẻ băn khoăn:
- Xin hai bác miễn cho những lời nớ. Nếp nhà chúng tôi: thiếu cơm thì sẻ, thiếu đũa thì bẻ, miếng cơm chia đều, tên kêu có khắp…
Chú phó Tràng vẻ mặt hồ hởi nói:
- Tui nghe cậu Côn nói về cảnh ngộ cháu Xển Văn của hai bác. Thương lăm. Hai ông bà thầy cử ở đây, nhân đức hiếm có trên đời ni. Cha mẹ là tiên thì con cũng là tiên. Cậu cả Khiêm tốt bụng, tốt lăm, tốt vô cùng. Cậu Côn lại còn tốt vô cùng tận, thông minh cũng vô cùng tận nữa kìa. Tôi thề có thần hai vai chứng giám: Tôi đã ăn cơm vàng cơn ngọc trong cung cấm đến miếng bánh nguội ở ngoài quán chợ Đông Ba, gót chân tôi đã rỗ hà rỗ hỏng vì đường đá ở kinh thành, và đường lầy nơi lũy tre của cả cái xứ ni mà ít gặp một gia đình mô trên thuận dưới hòa như gia đình bà cử Sắc. Mừng cho nhà bác, mừng cho cháu. Tui xin tự nguyện đóng một cái xe để cháu Xển Văn đi học chỉ việc đẩy đi đẩy về không phải cõng nữa.
- Úi cha! Úi cha!- Ông Xển thốt lên, bà Xển chắp cùng nói với chồng:
- Lạy Phật Tổ Như Lai! Thật là đèn trời soi rạng. Chú làm phúc cho cháu Xển Văn cái xe đẩy để đi học là cho cháu nó một cái chân rồi.
Bà cử Sắc cũng vui thêm:
- Chú phó Tràng yêu mến các cháu lắm. Chẳng những riêng các cháu nhà tôi, cả đám trẻ ở cái xóm ni đều quấn quýt lấy chú.
Chú phó Tràng đứng lên, hai bàn tay xoa xoa vào nhau nói:
- Thầy cử đang giảng sach, nghe được tý mô tui thấy đầu óc mình đỡ u mê, hai bác ạ. Và tui cũng xin phép hai bác đến làm nốt cho xong để thầy cử có thêm cái giá sách. Hai bác ngồi chơi với bà cử nhá.
Vợ chồng ông Xển cũng đứng lên theo, vừa đáp lễ chú phó Tràng, vừa tạ từ bà Sắc. Ông Xển nói:
- Vợ chồng tui cũng xin phép bà, ở nhà đang có mấy việc nóng vội. Xin bà thưa lại với thầy: Vợ chồng, con cái tui đội ơn ông bà và hai cậu – Bà Xển nói tiếp lời chồng – Đội ơn thầy, đội ơn bà, đội ơn cậu Côn, cậu Khiêm.
Bà cử Sắc tay nâng khay trầu băn khoăn nói với ông bà Xển:
- Tôi….đã thưa với hai bác là đừng nói ân huệ. Ở đời giúp đỡ nhau là cái nợ đồng lần. Tự cổ chí kim chảng ai sống không phải nương tựa vào người khác. Đến vua cũng phải nhờ cậy hàng trăm người hầu hạ thì mới ra cái “đấng thiên tử” ạ - Bà cử Sắc mời – Hai bác ăn với tôi miếng trầu nữa.
Ông Xển nhận miếng trầu từ tay bà cử Sắc ngắm như ngắm một đoa hoa đẹp. Bà Xển nhỏ nhẹ:
- Bà têm trầu kiểu cánh phượng đẹp mà rất chặt. Ở kinh đô thỉnh thoảng mới có được một đôi người được mời têm trầu tiến.
- Mẹ tôi dạy tôi tập têm từ năm lên bốn. Cha tôi cho tôi học chữ từ năm lên năm. Nhờ rứa mà tôi biết được đôi ba việc lặt vặt, hai bác ạ.
Ông Xển nói với vợ như vớ được của:
- Đo..ó. Bà thấy chưa. Tui đã biết là người ta đồn về bà cử đây nhiều chữ hơn cả các bà hoàng phi, mệnh phụ. Tiếng lành đồn xa có sai đâu!
Bà cử Sắc ngượng ngập:
- Bà con quý mà cho tôi điều tốt chứ tôi có được mấy chữ đâu.
Bà cử Sắc tiễn khách ra tận ngõ ngoài. Vợ chồng ông Xển đi chậm rãi luôn luôn ngoái lại nhìn vẻ bịn rịn. Bà cử Sắc đứng trước ngõ đợi khách đi khuất, quay trở vào. Bà dừng bước bên khóm trúc trước sân, lắng nghe tiếng chồng say sưa giảng về ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín….
PHẦN 10
Trường học thầy cử Sắc có thêm một học trò mới. Bé Xển Văn. Một đứa bé tật nguyền, con nhà cần lao, mà hiếu học được thầy thương, cả đám học trò yêu mến theo.
Lúc ông Xển cõng con đến đầu sân, Côn chạy ra ghé vai cõng bé Xển vào lớp. Thầy cử Sắc, bà cử Sắc đều ra tận ngoài sân đón nhận, hỏi han đon đả như đứa con của gia đình. Mấy lớp học trò lớn, bé đều xáp đến quây quần bên bé Xển. Trên gương mặt bé Xển đã tan biến mọi sự lạ lùng e sợ. Nó cảm thấy đến trường học thầy cử Sắc như về nhà nó, không một ai ở đây coi khinh nó là “thằng què”!
Thầy cử Sắc xếp cho bé Xển Văn được ngồi học ở một chỗ riêng, cạnh án thư của thầy. Côn lại được cha giao việc “trợ giáo” cho bé Xển, Tôn Thất Tuấn, Diệp Văn Kỳ thì đỡ đầu bé Xển lúc Côn bận bịu gì đó. Trong lúc chú phó Tràng đóng xe đẩy chưa xong, việc cõng bé Xển về nhà khi tan học do tự nguyện của các bạn trong lớp.
Thầy cử sắc nói:
- Mỗi thời khắc thầy dạy một lớp học trò khác nhau. Lẽ ra trò Văn khộng tựu học vào buổi này nhưng vì trò văn cần có sự nâng giác của các đồng môn – Thầy cử Sắc dạy lại bài bản từ đầu cho bé Xển Văn. Thầy chỉ dẫn cho Xển tập viết theo bản tự mẫu do thầy soạn.
Bé Xển chăm chỉ viết. Thầy cử Sắc đến giảng sách cho lớp học trò giỏi. Ông treo trên vách hàng dãy những tấm giấy bồi gắn bằng nhựa trái thị xanh. Trên đó ghi tên và tóm lược sự nghiệp của các danh nhân văn hóa Việt Nam. Những con mắt thiên tư của đám học trò nhìn đắm đuối vào từng hàng chữ đẹp như tranh treo.
Thầy cử Sắc dáng nghiêm trang nói:
- Từ xưa, từ khởi thủy việc học chữ Nho này, cha ông ta thường chú trọng các điển cố và Bách gia Chư tử bên nước Tàu. Nước Nam ta cũng có Chư tử, nhưng chẳng được coi trọng.
Ông trầm tư nhìn học trò, nhìn tên tuổi các danh nhân treo trên vách…Ông căn dặn học trò với niềm tin tưởng:
- Một mai các trò có vốn học vấn, có vốn tuổi và các thứ vốn tích lũy làm người, thầy khuyên các trò nên lưu tâm việc tìm hiểu ông cha, học kỹ các Chư tử nước Nam.
Thầy cử Sắc nâng cái thước dài, gỗ mun chỉ lên hai chữ đại tự: Tuệ Tĩnh. Ông nói giọng thành kính:
- Đây là vị Thánh y của nước Nam. Người là đấng khai sáng nghề thuốc chữa bệnh cho dân ta. Quê hương ngài ở làng Hồng Nghĩa, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tên ngài là gì không có ghi trong sử sách. Chỉ tương truyền rằng Ngài sinh ra, trên trán có chữ Y (chữ nghĩa là thuốc). Ngài có thiên tư kỳ lạ, được mọi người gọi là Tuệ Đồng. Lớn lên hình chữ Y trên trán càng rõ, thông minh tới mức học ít biết nhiều, tiếng tăm khắp vùng. Cho nên gọi là Tuệ Tinh, tức là ông sao sáng. Nhiều người gọi nên mãi thành tên và gọi chệch là Tuệ Tĩnh. Năm ngài lên mười tuổi, một hôm ngài đi về quê ngoại bỗng gặp một ông cụ râu dài quá ngực, tóc trắng tựa bông. Ông cụ hóa phép, Tuệ Tĩnh cứ mê mẩn đi theo cụ lên rừng. Cụ già không nói rõ mình là ai, chỉ cho Tuệ Tĩnh biết: “Nhân hải khổ hải”. Có nghĩa: “Đời là một bể người cũng là một bể khổ. Trong muôn vàn nõi khổ đó bệnh tật là cái khổ luôn luôn uy hiếp con người. Ta thấy con được trời phú cho trí thông minh, đức tuệ. Vậy nên ta mới đưa con lên chốn sơn lâm này để truyền nghề thuốc cho con”. Tuệ Tĩnh ở với ông cụ nơi rừng thiêng, lúc trở về quê hương đúng mười năm. Theo sử sách thì Tuệ Tĩnh nổi tiếng học giỏi từ bé. Ông đã dày công đi tìm thầy học thuốc và tu hành ở những nơi am thanh cảnh vắng. Ông đã đánh đường sang tận nước Tàu, tu tai chùa Vạn Phúc. Tại đây Tuệ tĩnh gặp được một danh y tên là Vương Quan Thanh. Vị danh y này thấy Tuệ Tĩnh là bậc hiền tài nên hết lòng truyền nghề cho. Tuệ Tĩnh kiên tâm nhẫn trí học trọn mười năm. Ngài trở về nước lấy chùa làm nhà, vừa chữa bệnh cho dân, vừa viết sách thuốc. Ngài đã dạy: “Nam dược cứu Nam nhân”. Ngài viết sách thuốc không chỉ nhằm mục đích truyền dạy về phép tìm căn bệnh, tìm cây thuốc, sao tẩm, bào chế để chữa bệnh, mà ngài còn dạy cho người Nam ta về y đạo. Sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” viết Dĩ tư đạo giác tư dân, nghĩa là lấy đạo lý giác ngộ nhân dân này…
Thầy cử Sắc tựa người vào án thư. Ông nhìn từng gương mặt học trò, ánh mắt ông đổi sắc màu theo sự trăn trở bên trong. Ông nói với một niềm tin gửi gắm.
- Thầy nghiệm thấy rằng, học chỉ biết chữ để đọc sách được không có gì là khó. Cái khó của sự học là cái chân lý để làm người. Ấy là nhân giả, nhân dã. Thầy nghĩ rằng, cũng không thể đợi đến lúc mọc râu mới nghĩ đến chuyện tu nhân tích đức. Ở lứa tuổi các trò, tuổi ấu nhi là dễ học, dễ nhớ, nhớ lâu. Qua sử sách thầy nhận thấy, Chư tử bên Tàu hay Chư tử bên ta, đều có thiên bẩm và được học đạo lý làm người sớm, rồi cả một đời tu thân mới nên nghiệp lớn. Thầy Chu Văn An để lại một tiếng thơm làm người từ đời nhà Trần đến nay vẫn còn nức lòng người. Có được tiếng thơm muôn thưở ấy đâu phải có một ngày, một thnasg, một năm mà tích tụ cả đời người về sự học đọa lý, hành nhân nghĩa. Các bậc thầy tiền bối đã truyền dạy cho thầy rằng: Quốc sư Chu Văn An mới bốn tuổi đã đọc được loại sách ấu học. Một hôm trong lúc mẹ phân phát quà bánh cho các con. Người anh đã xị mặt, chê ít, dỗi không nhận phần. Chu Văn An mới tuổi lên năm bỗng thốt ra một câu như sách: “Nhân tham tài tử, điều tham thực vọng”. Năm lên mười, thầy Chu Văn An đã giỏi nghị luận. Một hôm Chu Văn An đọc sách Tả truyện, tích Tăng Ái Bá can ngăn vua Lỗ Hoàn Công không nên nhận cái đỉnh của Tống. Tăng Ái Ba can vua rằng: “Người đang làm chủ xã tắc phải giữ đức sáng, luôn luôn ngăn chặn gian tà trong hàng ngũ quân thần, quan lại. Làm được như vậy mà còn lo đại loạn, mất ngôi. Muốn làm được gương tốt cho con cháu, đẻ tiếng thơm cho hậu thế thì Thái miếu lợp bằng tranh, xe đi nên lót bằng cỏ, đồ dùng không linh đình cao lương mỹ vị mà nê đức kiệm. Áo cổn, vươn miệng, xiêm y cho đến dinh thự cung thất lại càng sáng đức văn. Như vậy đức đã kiệm lại có độ lượng, nhiều hay ít là do số mực, dùng làm văn kỷ cương, dùng âm thanh và ánh sáng mà cai quản bá quan khanh tướng thì bá quan khanh tướng mới giữ nghiêm kỷ cương. Nay hoàng thượng lại bỏ đức nhân ham cái đỉnh quý làm của hối lộ. Hoàng thượng dùng của hối lộ ấy đem vào thờ trong thái miếu là làm một việc vừa sỉ nhục trời đất và các đấng cao minh, vừa nêu gương xấu cho bá quan khanh tướng được thể để ăn hối lộ, nhũng nhiễu trăm họ. Vì thượng bất chính thì hạ tắc loạn. Quốc gia hư hịa do bá quan khanh tướng gian tà, thất đức, ăn hối lộ không biết ngượng mồm đỏ mặt. Xin hoàng thượng hãy bỏ ngay cái đỉnh của hối lộ ra khỏi Thái miếu”. Nhưng vua Lỗ Hoàn Công không nghe lời can của Ai Bá. Đọc xong tích truyện, thầy hỏi Chu Văn An: “Trò có suy nghĩ gì về cái tich ấy.” Cậu bé Chu Văn An thưa rằng: “Bẩm thầy, Tăng Ái Ba không phải người hiền mà chẳng qua mượn lời hay ý đẹp để che đậy, giống như con cáo khoác bộ lông thỏ, đó thưa thầy.” Thầy học Chu Văn An đã sửng sốt hỏi: “Cớ sao trò lại nói ngược hẳn với sử sách đã từng khen Tăng Ai bá dám can vua không nhận của đút lót?” Cậu bé Chu Văn An lại thưa tiếp: “Thưa thầy, Lỗ Hoàn Công là kẻ vô đạo, đã giết anh vì một ngôi vua. Tăng Ai Bá đã không chống kẻ vô đạo ấy mà còn làm thần, tức là đồng lõa với kẻ giết vua, giết anh. Rồi lại mượn lời đạo lý để khuyên kẻ vô đạo giữ “liêm sĩ”, có nghĩa là trung thành với tên thoán đoạt ngôi báu. Rõ ràng Tăng Ai Bá đâu phải người chính đạo trung ngôn, thưa thầy!”
Cả lớp học trò tuổi thơ long lanh mắt ngọc hướng về thầy cử Sắc. Ông đằm thắm nhìn từng gương mặt anh tú trong đám học trò mà ông rất yêu thương. Ông nhìn Công Tôn Nữ Huệ Minh, hỏi:
- Thầy đã cho học trò đọc sách Tả truyện. Nay nghe thầy kể lại lời bình của danh sư Chu Văn An lúc còn bé, về tích Tăng Ai Bá can Lỗ Hoàn Công không dùng cái đỉnh của Tống, trò Huệ Minh nghĩ sao:
Huệ Minh khoanh tay đứng lên:
- Dạ thưa thầy, con thấy lời bàn của thầy Chu Văn An là cao kiến, rõ ràng, không úp mở. Con rất thích vì dễ hiểu. Con lại nhớ thêm về lời thầy đã dạy chúng con: Muốn xét lời một người trước tiên xét vị trí của người đó. Nếu là một người trong đám thoán nghịch, nịnh thần bợ đỡ, thì dù lời bàn có trung, văn ngôn có hay chẳng mấy ai tin.
- Các trò khác có lời bàn nào thêm không? – Thầy cử sắc hỏi.
Cả lớp đều tỏ bày với thầy cử Sắc ý tưởng của mình như Công Tôn Nữ Huệ Minh. Sau giây lát im lặng, Nguyễn Sinh Côn khoanh tay đứng dậy:
- Thưa thầy, con có lời bàn thêm ạ.
- Tốt lắm, trò nói đi!
- Dạ thưa thầy, người xưa đã dạy: Gặp việc lành đừng bỏ qua mà phải vun đắp vào, thấy sự ác phải diệt ngay chớ để nó to ra. Nhất là những người có sứ mệnh chăm dân coi điều ác như nông phu thấy loài cỏ dại phải lo nhổ, cuốc tận gốc, vun thành đống đốt cho kỳ hết không để sống sót. Làm được như vậy thì điều thiện sẽ mọc ra như măng, sẽ lớn lên thành ngàn. Vua Lỗ Ẩn Công đã không làm theo cái đạo lý ấy nên mới dẫn tới tai họa bị em trai chùng cha khác mẹ giết.
- Trò hãy giải cho rõ hơn.
- Dạ thưa thầy, theo tích trong Tả truyện thì, vợ chính của vua Lỗ Huệ Công, chết không có con. Người thiếp là Thanh Tử sinh ra Ẩn Công. Vua Huệ Công đã cưới một người vợ khác, tên là Trọng Tử, đẻ ra Hoàn Công, được Huệ Công lúc lâm chung xuống chiếu truyền ngôi, nhưng vì còn thơ ấu, Ẩn Công được giữ ngôi báu cho đến lúc em trưởng thành thì trao lại. Đang khi trên ngôi thiên tử, một nịnh thần là Vũ Phủ thấy âm mưu của mình không được Ẩn Công nghe theo thì rất sợ. Y liền đến gặp Hoàn Công vu cáo Ẩn Công ngay. Lỗ Hoàn Công đã cùng Vũ Phủ giết anh rồi lên ngôi. Thưa thầy – Côn nói giọng rắn rỏi – Nếu Lỗ Ẩn Công giết ngay cái ác Vũ Phủ như nhà nông nhổ ngay đám cỏ dại thì đâu có cái họa ấy
Thầy cử Sắc giọng rất vui:
- Một tích truyện trong sách Tả truyện của Tả Khưu Minh đời nhà Chu mà cậu trò Chu Văn An đã tìm ra được lời bàn khác hơn những người lớp trước. Ngày nay, các trò lại cũng tìm ra một lời bàn khác với thầy Chu Văn An - ấy là “con hơn cha là nhà có phúc”. Thầy Chu Văn An khi còn vị thanh niên đã thành nhân cách. Vừa đi học, vừa làm thầy học cũng nổi tiếng cả hai đường. Khi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), thầy Chu Văn An càng không ủ chỗ mà nhận học trò. Quê thầy ở vùng Thanh Đàm (Thanh Trì), phía nam kinh đô Thăng Long. Học trò tìm đến học với thầy An, từ các vùng Thanh Hoa (Thanh Hóa), Sơn Nam Hạ, SƠn Nam Thượng, Kinh Bắc, Thăng Long….Thầy không chịu ra làm quan nhưng đến đời vau Trần Minh Tông vời ông nhiều lần và hai người học trò đang làm quan tại triều là Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh và Tiến sĩ Lê Quát khuyên thầy, cuối cùng ông nhận chức Tư nghiệp Quốc tử Giám và dạy học cho thái tử. Trong khi giữ cái chức quan coi việc dạy và học cho con vua học, thầy Chu Văn An ngày đêm cặm cụi soạn sách “Tứ thư Thuyết ước” gồm mười hai quyển là loại sách dạy học. Thầy Chu văn An dạy học, dạy học và dạy học suốt đời. Suốt đời thầy An lấy việc truyền bá đạo làm người là lý tưởng. Đời vua Dụ Tông, chính trị đổ nát, cơ nghiệp nhà Trần suy sụp, đất nước ngả nghiêng nhân tâm ly tán vì các bậc huân cựu có công lớn, uy tín cao đã khuất dần, bọn gian thần lộng hành trong triều, nhũng nhiễu dân chúng. Dân kêu trời không thấu. Còn vua thì quanh năm ngày tháng không rời bàn tiệc và đám con hát sòng bạc. Các vương hầu khanh tướng càng được thể mà phè phởn trên sự lầm than của trăm họ. Có đời thuở nào, nhà vua lại rước đám con hát con bạc ngoài kẻ chợ, tận Đình Bảng, tận Tây Sơn…vào cung để “mua vui”, để sát phạt “vận đỏ đen”.
Công Tôn Nữ Huệ Minh, Tôn Thất Tuấn nhìn thầy cử Sắc chớp mắt liền liền. Cả lớp ghé mắt sang phía Huệ Minh, Tôn Thất Tuấn. Nguyễn Sinh Côn tai lắng đọng những lời cha nói nhưng mắt không rời hàng chữ son trên tấm bảng liệt kê một số danh nhân Văn hóa Việt Nam treo gần án thư: Dĩ thân tác tác. Thầy cử Sắc vẫn nói với học trò bằng một giọng xót xa:
- Thầy Chu Văn An thấy không nên có mặt mình trong cái vương triều nhầy nhụa bả vinh hoa và tục tĩu ấy. Thầy đã dâng sớ “Thất trảm” cho vua Trần Dụ Tông, rồi lui về ở ẩn bên chân núi Phượng Hoàng vùng Chí Linh. Thầy lại vui với học trò, với non xanh nước biết. Các trò nhớ kỹ điều này: Bản Thất trảm của thầy Chu Văn An thấu tay chứ không thấu tai vua, thấu mắt vua. Cho nên vua Trần Dụ Tông ném bản Thất trảm vào kho giấy mục. Đến đời Lê Thánh Tông lại được sử gia Ngô Sĩ Liên moi ra và chép vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và có lời bàn về Chu Văn An: “Sau muôn năm nghe cái phong cách của tiên sinh, người ngang ngạnh cũng hóa ra liêm chính, kẻ ươn hèn cũng tự lập được”. Ở sách Thông Khảo Tổng Luận thì ghi rằng: “Thất trảm chi sớ, nghĩa động càn khôn”. Các trò thấy không, chỉ một tờ sớ kết tội chém bảy tên gian thần mà nghĩa khí động cả trời đất. Rồi đến ông vua hay chơi chữ là tự Đức đã làm thơ về Chu văn An và đưa vào sách Việt Sử Tổng Vịnh:
Thượng thượng sơn đầu thế giang sư
Tâm dự nhân quai nhất khứ trì
Thất trảm sớ thành thiên địa giám
Trực thanh bất cộng hữu Trần suy
Thầy cử Sắc giảng tiếp một số danh nhân nữa rồi cho học trò nghỉ
Hôm sau, dưới mái nhà yên ả, tiếng thầy cử Sắc giảng sách lại sang sảng trong cảnh ban mai thanh lương giữa thành nội. Ông giảng sách nhưng không khuôn lệ theo sách. Ông dẫn học trò vào miền tinh hoa của cha ông. Ông nói về những tài năng thiên bẩm của các bậc hiền tài. Một thiên bẩm không phải ở một thế giới xa xôi huyền bí nào mà từ trong nòi giống của các bậc hiền tài ấy tạo thành. Rồi sớm được nuôi dưỡng, dạy dỗ, lớn lên có chí học, chí hành mới thành vĩ nhân được
- Thưa thầy, có thật Lê Quy Đôn hai tuổi đã đọc được chữ không ạ - Diệp Văn Kỳ hỏi:
- Lê Quý Đôn là một thần đồng; sử sách ghi chép, tương truyền và giai thoại nói về sự thần đồng của nhà thông thái Lê Quý Đôn rất nhiều. Theo sự truyền tụng thì năm lên hai tuổi Lê Quý Đôn đã đọc được chữ Hữu (có) chữ Vô (không). – Côn nhìn cha đầu ngẩn cao, mắt sáng lên những tia sáng tinh anh. Cả lớp cũng nhìn về một hướng với Côn. Thầy cử Sắc vẫn nói bằng một niềm tự hào – Lên năm tuổi Lê Quy Đôn thuộc lòng nhiều thiên trong kinh Thi. Năm mười một tuổi mỗi ngày ông thuộc chín mười chương sách và học Kinh Dịch. Mười bốn tuổi ông đã học hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, Sử truyện, nhớ làu làu sách của Chư Tử. Một ngày ông có thể làm mười bài phú mà không viết nháp. Nhưng….nhưng thỉnh thoảng ông cũng lười học, bỏ đi chơi đánh đáo, đánh khăng – Côn cười to, nhổm dậy. Suýt chút thì đứng lên nhưng thấy cha nhíu mày, Côn liền ngồi xuống. Tiếng cười của cả lớp rộ lên. Thầy cử Sắc cũng cười tươi – các trò không biết, năm Lê Quý Đôn mới bảy tám tuổi vì quá ham chơi, rắn đầu biếng học, thân phụ ông phạt ông làm một bài thơ ứng khẩu đề là Rắn đầuvới nội dung răn dạy và có nhiều tên cácloại rắn. Lê Quý Đôn đọc luôn trước cha.
Chảng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học chẳng ai tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo
Lằn lưng cam chịu vết roi tra
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
Qua bài thơ này, các trò thấy tài thần đồng của Lê Quý Đôn đã vận được nhiều tên các loại rắn vào thơ chứa đựng ý nghĩa răn dạy đối với ai rắn đầu biếng học. Còn tài tình nữa trong bài thơ này là tự nhắc nhở mình phải biết giữ lấy nếp nhà. Vì Lê Quý Đôn, vốn đã được cha đặt tên hồi nhỏ là: Lê Danh Phương. Cha ông đặt nhiều hi vọng lớn ở con nên mới chọn cái tên ấy. Vì thân sinh của Lê Quý Đôn là Tiến sĩ Lê Phú Thứ, một danh nho nổi tiếng cả đất Sơn Nam, Thăng Long, Kinh Bắc và làm quan đến bậc Hành bộ thượng thư dưới triều Lê Dụ Tông (1724). Cha Tiến sĩ thì con phải “hơn cha là nhà có phúc”. Cho nên Lê Quý Đôn mười bảy tuổi đỗ giải nguyên. Sau đó ông thi Hội đỗ Hội nguyên, thi Đình đỗ Bảng nhãn. Đó các trò thấy không thiên bẩm không phải do một thứ thần bí nào ban thưởng cả. Nguyễn Trãi, một bậc đại tài, văn võ kiêm toàn, một anh hùng vĩ đại của dân tộc cũng có thiên bẩm, một thần đồng. Sự thiên bẩm, sự thần ấy cội nguồn từ mẹ là một bậc mệnh phụ nổi danh hay chữ, con gái của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán; thân sinh Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, đỗ Bảng nhãn.
- Dạ, bẩm thầy – Tôn Thất Tuấn hỏi – trong các bậc hiền tài nước Nam ta có ai đỗ đại khoa ở tuổi vị thành niên không, thưa thầy?
- Có! Sử gia Lê Văn Hưu. Ông là người khai sáng ngành chép sử ở nước ta. Ông nổi tiếng hay chữ từ bé. Cho nên, mới mười bốn mười lăm tuổi, ông đã được thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đón về làm “môn khách” trong nhà. Ông thi đỗ bảng nhãn năm mới mười bảy tuổi. Một trường hợp “độc nhất vô nhị” trong lịch sử thi cử ở nước ta có ông Nguyễn Hiền người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, Sơn Nam Thượng, nay là tỉnh Nam Định, mới mười ba tuổi đã đổ Trạng nguyên – lớp học thốt lên những tiếng “thít” qua kẻ răng, những mái đầu nhấp nhô với những cặp mắt thơ ngước nhìn thầy Sắc không chớp.
- Mười…ba tuổi!....Trạng….nguyên…- Côn nói khe khẽ.
Thầy cử Sắc như tự trách mình trước học trò:
- Ông Nguyễn Hiền mười ba tuổi đỗ Trạng, mười sau tuổi làm quan chức thượng thư bộ Công dưới triều Trần Thái Tông. Ngày nay thầy đã ba mươi tư ba mươi lăm, hai lần thi Hội mà “đi không lại về không”.
Lê Thị Hạnh khoanh tay đứng lên:
- Dà…ạ…thưa..thầy – Lần dầu tiên Lê Thị Hạnh mạnh dám hỏi thầy trong giờ học. Hai má đỏ lựng, mồ hôi dâm dấp ở trán, nói rưng rưng và mắt không dám nhìn thẳng vào thầy – Thưa thầy, nước Nam ta có người đàn bà nào hay chữ nổi tiếng không ạ?
Thầy cử Sắc giọng buồn buồn:
- Mỗi danh nhân ở nước Nam ta đều có một bà mẹ rất vĩ đại. Nhưng tục lệ người Nam mình coi trọng công lao người mẹ mà lại coi thường nữ giới; vì vậy con gái ít được đi học, nếu có học hỏi ũng không được dự việc thi cử. Cho nên những bậc phụ nữ tài đức ít được nhắc đến. Sử sách chỉ nhắc đến có vài bà do để lại những án thơ bất hủ. Bà Đoàn Thị Điểm chẳng hạn. Bà sinh trưởng trong một gia đình danh nho, cha là Đoàn Doãn Nghi, anh là Đoàn Trác Luân đều đỗ đại khoa. Lúc còn bé thơ, bà nổi tiếng chữ nhiều, thuộc sách Tứ Thư, Ngũ Kinh như thuộc truyện ru em. Cha mất sớm, anh trai là một ông nghè, nhưng không ra làm quan, chỉ mở trường dạy học nơi thôn dã. Nhưng ông mất sớm. Bà Đoàn Thị Điểm thay anh nuôi cháu và dạy học. Và bà cũng nổi tiếng nhan sắc nhưng phải cam chịu cái phận lỡ lứa để nuôi đàn cháu mồ côi khôn lớn. Mãi tới năm ba mươi bảy tuổi bà mới kết duyên với ông Tiến sĩ Nguyễn Kiều góa vợ, cũng là một danh nho nổi tiếng hay chữ. Bà để lại cho đời áng thơ Chinh Phụ Ngâm diễn Nôm và tập truyện: truyền Kỳ Tân phả, bằng chữ Hán – ông hỏi luôn – Trò nào đã thuộc được hết thơ Chinh Phụ Ngâm giơ tay thầy xem nào?
Côn giơ tay cao lên, Tôn Thất Tuấn, Huệ Minh, Diệp Văn Kỳ, Lê Thị Hạnh giơ tay rụt rè, thầy Sắc hỏi:
- Sao các trò giơ tay không mạnh mẽ, dứt khoát như trò Côn? – cả lớp nhìn nhau lúng túng, Tôn Thất Tuấn đứng dậy thưa:
- Dạ, thưa thầy, chúng con chưa thuộc làu được như anh Côn ạ.
- Đọc sách phải nhớ sách. Kim Vân Kiều và Chinh Phụ Ngâm là hai áng thơ hay tuyệt bút, các trò nên thuộc lòng. Nhất là Kim Vân Kiều của Thi thánh Nguyễn Du, các trò phải tạc từng chữ vào tâm trí. Thầy coi Tố Như tiên sinh là bậc Thi thánh của nước Nam ta đó.
Côn đứng dậy khoanh tay:
- Thưa thầy, con nghe các cụ thường nói “Cha già con cọc”. Thi thánh Nguyễn Du lúc sinh ra, phụ thân ông đã gần sáu chục tuổi, mà tài thơ ông lại nhất nước ta, thưa thầy.
Bị con hỏi một câu quá đột ngột, thầy cử Sắc hơi lúng túng. Thầy liền hỏi vặn:
- Trò căn cứ vào đâu mà nói Nguyễn Du là con sinh muộn tuổi của phụ thân ông?
- Dạ thưa thầy. Con được nghe trong cuộc đàm đạo giữa thầy với thầy đầu xứ San (Phan Bội Châu) ạ. Thầy San có nói phụ thân Nguyễn Du hơn mẫu thân Nguyễn Du những ba mươi ba tuổi (nguyễn Nghiễm – 1707, Nguyễn Thị Tần - 1740). Lúc Nguyễn Du ra đời thì cha đã năm mươi tám tuổi, mẹ mới hăm lăm…
Thầy cử Sắc nở nụ cười hồn hậu, gương mặt ông hiền từ, ông nói:
- Thầy rất bất ngờ về điều con hỏi. Thầy hiểu rằng, cái câu tục ngữ “cha già con cọc” nó đúng với mọi người bình thường. Với những người anh tài, làm những công việc lao tâm khổ trí, nặng nợ với đời, lại có sự nghiệp lớn thì tuổi “tri thiên mệnh” trở lên mới là độ chín của tài năng. Rồi còn nhiều điều kiện khác hợp thành thì mới có thể tạo ra một thiên bẩm.
Hồ Quang hỏi:
- Dạ thưa thầy “không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời”. Vậy có ai học giỏi nối tiếp được cả ba đời không, thưa thầy?
- Có nhưng rất hiếm. Ví như Phan Huy Cẩn quê ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc(Can Lộc) tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một danh sĩ nổi tiếng học giỏi, làm quan cũng nổi tiếng thanh liêm, trung thực, ông chọn đất Thụy Khê, Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội) làm quê hương thứ hai. Con ông là Tiến sĩ Phan Huy Ích, Tiến sĩ Phan Huy Ôn. Đời cháu của Phan Huy cẩn là danh nho Thượng thư Phan Huy Thực, là nhà bác học Phan Huy Chú, tác giả bộ Lịch Triều Hiến Chương loạn chí – ông đặt tay lên bộ sách đang ở trên án thư – Phan Huy chú, Phan Huy Thực là con của Phan Huy Ích. Rồi Phan Huy Vịnh là một danh sĩ dưới triều Minh Mạng, tự Đác, làm tới Lễ bộ thượng thu kiểm Tổng tài Quốc sử quán, thương bậc đại thần. Đó là con Phan Huy Thực, chắt của Phan Huy Cẩn.
Thầy cử Sắc giọng tươi, sáng hơn:
- Còn có một họ nổi tiếng danh nho nữa là họ Ngô Thì. Họ này thông gia với họ Phan Huy, Ngô Thì Ức, thân sinh Ngô Thì Sĩ, ông nội của Ngô Thì Nhậm…nhưng có một hiện tượng đặc biệt là họ Hồ: Ba đời đều đỗ Trạng nguyên – Côn lại nhổm người như muốn đứng dậy và cả lớp dồn ánh mắt ngực nhiên về phía thầy cử Sắc – Hồ Tông Thốc đỗ Trạng nguyên, Hồ Tông Thành, con, đỗ Trạng nguyên, Hồ Tông Lại, cháu, đỗ Trạng nguyên. Vì vậy mà có câu ca dao:
Một nhà ba Trạng nguyên ngồi
Một gương từ mẫu cho đời soi chung
Ba ông Trạng trong một nhà là niềm tự hào cho mọi thế hệ. Từ cuối nhà Trần (Trần Nghệ Tông) đến giờ chỉ có một nhà họ Hồ Tông Thốc là có ba Trạng nguyên. Niềm vinh hiển lớn lao này phải kể đến công nuôi dưỡng nhân tài của một bà mẹ. Đó là bà Thị Ấn. Sử sách không ghi rõ họ của bà. Bà là vợ hiền của trạng nguyên Hồ Tông Thốc. Cha con ông cháu họ Hồ này đã làm rạng danh thêm nền học vấn nước Nam và cũng là thuộc lớp người khai khoa cho xứ Nghệ. Ngày nay, xứ Nghệ có tiếng thơm “đất hiếu học” ắt cũng từ “tấm gương soi” của họ Hồ này. Thầy đã đọc kỹ, đã nghiền ngẫm sách Chư Tử của Tàu, đã để tâm vào việc tìm học các bậc hiền tài của nước Nam ta. Thầy thấy mỗi nhân tài đều có một thiên tư khác nhau, nhưng nhân tài nào cũng đều có ý chí lớn. Những kẻ ỷ lại sự thông minh thiên phú, không có chí thì rốt cuộc chẳng có gì cả. Thầy vô cùng kính phục Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, có một thiên bẩm phi thường mà vẫn cần công khổ nhọc hơn cả những người thường. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển mười lăm, tập hai ghi lại tương truyền rằng: Thốc từ xứ Nghệ ra Thăng Long du học. Mới đến kinh đô, những hôm đến trường thỉnh thoảng còn bị lạc đường. Một hôm, nhân Tết nguyên tiêu. Đạo nhân Lê Pháp Quan mở tiệc rượu mời các bậc danh sĩ Thăng Long đến dự và bình thơ. Hồ Tông Thốc đang tuổi thiếu niên xin cha là Hồ Cao được đi theo đến dự. Thốc ngồi khuất sau lưng cha, nhìn bốn phía thấy các danh sĩ áo khăn là lượt ngồi kín chỗ. Các danh sĩ vừa uống rượu vừa làm thơ theo đề tài đã ra sẵn. Trogn lúc mọi người còn loay hoay trăn trở tìm tứ thơ, tìm hồn thơ, tìm vần, cân nhắc chữ, nghĩa…thì Hồ Tông Thốc đã nói nhỏ với cha: “Con có được dự vào việc thi thơ không, thưa cha?”. Ông Hồ Cao còn ngờ ngợ hỏi lại con: “Thơ con liệu có lọt được tai các bậc trứ danh này không?”. Thốc khiêm tốn thưa với cha: “Con cứ thử để biết sức mình, cha ạ”. Được cha vui lòng, Hồ Tông Thốc đã nộp một trăm bài thơ cho chủ tọa của đêm hội thơ, trong khi chưa có ai làm xong một bài nào. Sau đêm hội thơ này tiếng tăm cậu nho sinh Hồ Tông Thốc bay ra ngoài kinh đô Thăng Long, về tận trấn Nghệ An quê hương ông và sang các tấn khác trong cả nước – Thầy cử Sắc nhắc từng tiếng – một người thành nhân, thành danh từ tấm bé mà vẫn hòa mình với mọi người, vẫn khiêm tốn học hỏi. Đến khi ông Trạng nguyên làm đến chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ phong chỉ, kiêm Thẩm hình Viện sứ càng nổi tiếng thanh cao khiêm nhường, là đấng trượng phu lại càng phải khiêm tốn hơn cả người thường. Những lúc mang sứ mạng quốc gia đi sứ phương Bắc, tiếp sứ phương Bắc đến, ông lại nổi danh thêm về tài ngoại giao ứng đối, làm sáng uy danh “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”.
Thầy cử Sắc rời khỏi án thư, đứng gần học trò, nói giọng tâm tình hơn.
- Những điều thầy vừa nói với các con đều ở trong một chữ Nhân mà suy ra. Chữ Nhân bốn nét. Đó là nhan đứng ( ) bên tả, chữ nhị ( ) bên hữu. Nhân đứng mang hình dáng con người ngay thẳng. Chữ nhị với hai nét ngang, nghĩa là bằng nhau, bình đẳng. Chữ nhân này còn có cái nghĩa rằng cái giống để làm cốt cách con người như trong các trái cây đều có hạt nhân để làm mầm. Từ đó các con suy ra ở trong tám chữ: Nhân, Hiếu, Trung, Nghĩa, Đức, Lễ, Trí, Tín. Tám chữ này được đặt theo một trất tự quan niệm của thầy. Các trò cứ tiếp tục suy nghĩ. Suy nghĩ từ bây giờ, lớ lên càng phải suy nghĩ, suy nghĩ cả đời mình về tám chữ ấy. Và cố gắng thực hiện được tám chữ ấy….
PHẦN 11
- Văn! Văn kéo tấm đắp xuống phủ kín chân, còn hở hai bàn chân kia.
Côn đã vịn vào xe, nhắc bé Xển trước lúc đẩy xe đi. Từ ngày được đến học với thầy cử Sắc, bé Xển được mọi người gọi tên mới nhưng do quen miệng, thỉnh thoảng một vài bạn cứ gọi là Xển, hoặc Xển Văn. Riêng Côn không một lần nào gọi cái tên tật nguyền của bạn.
Bé Xển hàng ngày đi học bằng xe đẩy, chiếc xe đẩy chú phó Tràng làm giúp.
Xe làm hoàn toàn bằng gỗ. Bốn cái bánh cũng là gỗ, được đệm một lớp thiếc chống mòn. Hai bên thành xe, phái sau lưng tựa, chú phó Tràng khắc mấy cành hoa và chim rất công phu, mỹ thuật. Trong thùng xe có đệm độn bằng giẻ rách, mụn vải. Hàng ngày bé Xển Văn đi học do hai người chị gái thay nhau đẩy xe đến trường. Lúc về phần nhiều Côn đẩy xe giúp bạn, hoặc Khiêm, Quang. Tuy là con nhà quan trọng thần, hàng Tôn Thất, Kỳ và Tuấn thỉnh thoảng cũng đẩy xe đưa bé Xển về nhà. Công Tôn Nữ Huệ Minh và Hạnh đi sau chiếc xe đẩy ra tới con đường lớn thì quay lại. Vì hai cô đi học có xe ngượi của nhà đón rước theo đúng giờ hẹn.
Con đường từ trường học thầy cử Sắc đến nhà Xển Văn đi qua mấy ngã ba, ngã tư, nơi các đám trẻ “đầu bò” thường tụ tập nô đùa, đánh đáo, đánh khăng và cũng hay gây gỗ, bắt nạt lẫn nhau. Một hôm, Côn đẩy xe đang rôm rả câu chuyện với Xển Văn thì bị mấy “ông đầu bò” chặn lại. Côn thấy bốn năm đứa to lớn hơn mình lại dữ tướng dạng chân, dạng tay chắn ngang đứng. Có đứa đứng thế võ trung bình tân, đá song phi trước xe.
Bé Xển Văn tái mét, hỏi nhỏ Côn:
- Bọn nó oánh (đánh) ta hả cậu?
- Đừng lo, chúng mình đâu có làm gì động chạm đến các bạn ấy.
Một đứa lớn nhất đám, đầu cạo trọc, mắt to tròn lỗ đáo, mày xếch, mũi cao, và gồ đường sống, cả khuôn mặt tươi rói, người để trần, cái quần ống rộng dài ngang đầu gối, mặc trễ dưới rốn. hắn bước khệnh khạng đến trước mặt Côn, giọng lè nhè:
Ha…ha…xe hoàng tử bảnh hỉ. Thằng hầu xe lại khôi ngô, trắng trẻo hơn ông hoàng tử ni!
Côn đỏ mặt. Người nóng ran, cố nén giận. Côn cúi xuống lật tấm đắp trên hai chân Xển Văn nói:
- Em tôi nó bị thiệt thòi, cực thế này đây.
Cả đám trẻ xúm quanh xe, nhìn chằm chằm vào hai chân teo quặt quèo, da trắng bệnh tương phản với gương mặt sáng láng của Xển. tay đầu trọc và cả đám trẻ “đầu bò” sắc mặt dịu lại. Tên đầu trọc hỏi trống không:
- Bại liệt từ nhỏ à?
- Em nó lên ba tuổi mới bị cái bệnh tai ác này.
- Tội nghiệp…Tay đầu trọc thương cảm nói – Cả đám trẻ tỏ ra ái ngại.
Côn nhận thấy đám trẻ “ghê gớm” ở cái xóm “âm hồn” này cũng có thể chơi được. côn tranh thủ tình cám chúng nói luôn:
- Chúng tôi không phải anh em ruột mà là bạn. Tôi đẩy xe giúp bạn đi học, đi chơi cho bạn đỡ buồn tủi.
Cả đám trẻ dồn những cặp mắt tình cảm thán phục về Côn. Một đứa cầm lấy cuốn vở học của Xển, hỏi:
- Sách học của mi à?
- Phải – Xển đáp. Cả đám trẻ xúm vào quyển vở của xển, lật từng trang xem chữ.
- Nó què mà học được chữ Thánh hiền như ri. Tụi mình đầy đủ mắt mũi, tay chân mà….chỉ ăn hại – mấy đứa khác chêm vào – mà mù tịt…mà có mắt cũng như mù.
Một đứa giọng từ tốn, lễ phép khác hẳn lúc đầu:
- Chữ anh ni còn đẹp như tranh vẽ. Chữ anh tê – nhìn lên Côn – chắc hẳn còn đẹp hơn nhiều. Xển nói giọng rắn rỏi hơn:
- Cậu Côn đã khai tâm cho tui đó. Cậu ấy là con thầy học của tui. Thầy cử Sắc ấy mà.
Cả đám trẻ trố mắt:
- Ồ ồ…! Chết toi! Ra…cậu là con thầy cử Nghệ An! – Tay đầu trọc còn đượm vẻ ngạc nhiên, hai tay ấp trước bụng, lễ phép nói với Côn:
- Tui được nghe ông ngoại nói chuyện với các người già trong bàn trà, bàn rượu thường nhắc đến quý danh thầy cử Nghệ. Các cụ rất bái phục thầy. Bữa ni tui gặp cậu, bất ngờ quá! Cậu xá cho bọn tui nghe!
- Có gì đâu anh! – Côn nói – Gặp nhau bất ngờ mà lại hóa hay, nhớ lâu.
- Ừ. Cậu nói phải ạ. Đánh nhau vỡ đầu mới nhận ra anh em. Bữa ni là một kỷ niệm “anh hùng tao ngộ đại lộ Đông Ba”. Tui là Đầu-Trái-Bưởi, thủ lĩnh Đông Ba đây cậu ạ.
Đang nói hiền từ với Côn, Đầu-Trái-Bưởi liền lên tiếng kiểu lục lâm:
- Quân bay…bay!… Cả đám trẻ đồng thanh: Dạ ạ dạ. Tất cả đứng thành hàng dọc trước mặt Đầu – Trái – Bưởi, thẳng tắp bên mé đường. Đầu-Trái-Bưởi dõng dạc:
- Ta đã gặp được đấng Minh chủ - Đầu-Trái- Bưởi nhìn về phía Côn – từ nay chúng ta một lòng một dạ phò đấng Minh chủ không để một kẻ mô trên đại lộ Đông Ba ni đụng đến cái lông chân của Minh chủ ta. Còn đây là Hoàng tử. Chúng ta xúm tay vô đẩy xe rước Hoàng tử về dinh – Cả đám: Tuân lệnh!
Đám trẻ “đầu bò” nổi trống mồm um xùm. Một số đi trước dẹp đường. Một số đẩy xe cho Xển Văn, một tốp đi sát theo xe vừa đánh nhịp mồm, vừa hát điệu thành văn
“Thú tang bồng…Thú tang bồng
Ngông thiệt là ngông
Nhìn đây đó
Mây gió mênh mông
Non sông rạng rỡ
Đường ngay chúng ta cùng đi vai kề vai….”
Đầu-Trái- Bưởi đi sau cùng với Côn. Những người đi qua cũng cười tươi với đám trẻ đang rước xe “Hoàng tử” vì tốp trẻ đi trước xe hễ thấy người trên đường là la inh ỏi: Dẹp…dẹp…cho xe Hoàng tử đi….
Gần đến lối rẽ vào xóm chợ. Một ông quan đội mũ cánh chuồn, râu dài xõa trước ngực, chiếc bài ngà bị râu che gần hết. Ông đi hơi bị chân vòng kiềng, lại mang cái tráp kè kè bên hông nên lệch người. Đám trẻ vờ không biết gì, la to: “Dẹp…dẹp…cho xe Hoàng tử về dinh!” Bé Xển sợ tái mét mặt. Côn và Đầu-Trái-Bưởi đi tụt đằng sau, không kịp ngăn các bạn nhỏ của mình đừng làm việc vô lẽ với người già. Ông quan mặt đỏ tía tai, dừng bước trước cái xe đẩy mà lũ trẻ con đứng xúm quanh. Ông gắt gõng:
- Đứa mô…đứa mô dám mạo xưng hoàng tử?
Đầu-Trái-Bưởi vội vàng lên nói:
- Bẩm cụ lớn ạ. Hoàng tử của chúng cháu đây ạ.
Đầu-Trái-Bưởi lại làm cái động tác như Côn làm lúc nãy, lật tấm đắp chân của bé Xển. Ông quan nhìn rõ hai cía chân nhỏ xíu nhợt nhạt, mềm như bún, ông cảm động, biết đám trẻ nhỏ này đang làm một việc nghĩa, nhưng nghịch ngợm, ông nói trách:
Đầu-Trái-Bưởi không vừa:
- Bẩm cụ lớn. Cụ thờ thiên tử của cụ. Chúng cháu thờ Hoàng tử của chúng cháu. Chúng cháu rất kính cụ mà.
- À! Tụi trẻ ranh ni quỉ quái thiệt – Ông nhìn quanh coi có tên lính nào lai vãng không. Một em trạc tuổi Côn chọc tức ông quan một phát nữa:
- Bẩm cụ lớn, chúng cháu còn có cả Thái tử nữa. Đấy ạ. – Em bé chỉ tay về phía Côn
Từ nãy, Côn đứng lấp trong đám trẻ; ông quan không để ý. Lúc này dám trẻ đứng nép về một phía; ông quan nhìn rõ Côn. Côn lúng túng khó xử vì Côn đã từng quen biết ông.
- Dạ…thưa…cụ….
- À….á…cậu….Cậu ni nom quen lắm! Ta có lần gặp ở đâu…!
- Dạ thưa cụ. Cháu đã có may mắn được gặp cụ tại nhà cụ Thượng Đào Tấn, cùng với cha cháu ạ.
- Ối là! Chế…t….t….th…ật. Ra cậu là con thứ của thày cử Sắc. Ta nhớ…Nhớ lại rồi. Bữa đó ta đã nâng chén chúc mừng thầy cử Sắc có một người con diện mạo tuấn tú, thiên tư không thường – hai mắt ông gieo sự ngạc nhiên vào cái xe và bé Xển – Răng cậu lại đi nhập bọn với cái lũ trẻ ni?
Đầu-Trái-Bưởi và cả nhóm cùng đáp:
- Dạ bẩm cụ, các bạn xóm giềng của cháu, cháu đẩy xe cho bạn học vì bạn tàn tật ạ.
- Bạn học! Thằng bé ni cũng học được hỉ?
- Dạ thưa cụ! Bạn ấy là học trò của cha cháu. Bạn ấy rất sáng dạ, học chóng biết lắm.
- Ồ ồ! Thầy cử Sắc…một ông thầy…Một bậc hiền nhân – ông đặt bàn tay lên cái tráp đeo trước ngực – Cậu về thưa dùm tôi lời tâm phúc kính thầy – Ông đặt tay lên vai Côn, nhìn thiện cảm với cả đám trẻ, giọng hiền dịu:
- Các cháu ơi! Các cháu thiệt đáng khen. Thiệt xứng đáng với lời Thánh hiền đã dạy “Kiến thiện như bất cập; kiến bất thiện như thám thang!” Chào các cháu – Vị lão quan lật đật bước. Cả đám trẻ khoanh tay, cúi đầu chào vị lão quan. Đầu-Trái-Bưởi và cả nhóm quay lại nhìn Côn với sự chờ đợi. Biết ý các bạn, Xển đã nhờ Côn giải nghĩa câu nói chữ của lão quan với các bạn. Côn nói:
- Quan nói với chúng ta một câu chữ, nghĩa câu đó là: Thấy điều thiện thì cố sức làm như không đuổi kịp, thấy điều ác thì sợ hãi như nhúng tay vô nước sôi – Hay!...hay…hay lắm!...Quan lớn phải khen chúng mình rồi – Cả nhóm nhao nhao lên, vừa nói vừa nhãy cẫng. Riêng Đầu-Trái-Bưởi đứng vịn tay lên thành xe của Xển Văn, nói với Côn:
- Cậu còn bé, bé hơn cả tụi tui, mà trong đầu cậu lại đựng được nhiều chữ, nhiều cai tốt, cái hay, cái đẹp hơn cả người lớn đó cậu?
Côn đỏ mặt. Cười. Tiếng Côn nhỏ nhẹ:
- Chúng mình đưa Văn về kẻo ở nhà mọi người mong đợi.
Từ ngày ấy, cái ngày “anh hùng tao ngộ đại lộ Đông Ba”, Côn đã được các bạn trẻ trên dọc con đường từ viện Đô sát ra cửa Đông Ba yêu mến. Mỗi lần có việc gì khó xử, chúng tìm đến Côn, nhờ phân xử cho.
PHẦN 12
Mùa đông.
Bầu trời kinh đô Huế thấp và nặng trĩu những lớp mây màu chì. Mây ám nóc Ngọ Môn. Thành cổ nhuộm màu vân mộng. Con sông Hương quằn quại dòng tím than. Cả kinh thành khoác màu tro ảm đạm.
Bà cử Sắc từ trong bếp bưng mâm cơm đạm bạc lên nhà trên, bà ủ vịm cơm vào cái giỏ bằng gỗ có nắp đậy kín mít. Cái giỏ gỗ mít này là do chú phó Tràng làm tặng vì thấy bà cử Sắc mỗi lần để phần cơm người đi vắng thường ủ bằng cái vịm sành. Bà loay hoay bên mâm cơm vì trời đã chiều mà chưa thấy chồng về! Mắt luôn ngóng nhìn ra ngõ. Đất trời u ám. Những chiếc lá bàn đỏ huyết bay bay trong sương lam chiều. Bà cố nén mà buồn vẫn đang lên đôi mắt và tỏa ra với cảnh trí mùa đông.
Bà đi quanh sân dọn dẹp cho vui tay, vui chân. Mắt bà vẫn đăm chiêu. Ấy vậy, lúc có mặt chồng, con bà không để một gợn buồn phiền trên gương mặt mình. Bà luôn thể hiện tươi vui được gánh vác việc nhà giúp chồng, con đèn sách. Chồng đã hai lần thi đại khoa mà vẫn chưa giành được “bảng Rồng”. Bà không dám lộ ra mặt tia buồn trong mắt, sợ chồng sinh nghĩ ngợi nhiều, ảnh hưởng đến chí tiến thủ. Bà đã nén kín nỗi lo buồn ấy qua mùa hè, mùa thu. Nay đã sang đông.
Mong ngóng mãi vẫn chưa thấy chồng về, bà cử Sắc đành gọi hai con ăn cơm trước.
- Các con ơi, cha về muộn, đành phải để phần thôi. Mẹ con mình ăn cơm trước rồi còn lo học bài, mẹ còn phải dệt cho kịp phiên chợ ngày kia có vải bán.
Côn nhanh nhảu:
- Chúng con học bài từ giờ, đợi cha về lúc nào thì ăn cơm lúc đó mẹ ạ.
- Phải rồi, em Côn nói phải đó. Mẹ ạ.
- Lúc ra đi cha các con dặn mẹ ở nhà cho các con ăn cơm trước vì chưa biết lúc nào về cả.
Ba mẹ con bà cử Sắc nài nỉ nhau một lúc việc ăn cơm trước hay đợi ông cử về. Cuối cùng bà cử đã ngồi vào khung cửi dệt. Khiêm, Côn vào bàn học. Sự yên tĩnh lắng sâu trong ăn nhà hiu hắt gió đông.
Côn học rất chóng thuộc bài. Chuyển tầm mắt ra khỏi bàn học, Côn thấy mẹ đnag cặm cụi đưa thoi, bốn bề vắng lặng. Con mèo đuổi bắt những chiếc lá khô đùa với gió ngoài sân. Côn biết mẹ không vui, lo lắng nhiều. Côn xếp gọn sách vở, bút nghiêng vào một góc bàn. Đi rất khẽ để khỏi ảnh hưởng đến anh đang học bài, Côn đến bên mẹ:
- Con học bài xong rồi. Con đọc sách cho mẹ nghe, mẹ nhá.
- Con định cho mẹ nghe sách chi nào?
- Con đọc sách Nhị Thập tứ Hiếu mẹ nhá.
Bà cử Sắc cười:
- Mẹ đã kể cho con nghe cả hai mươi tư chuyện hiếu nghĩa trong sách ấy từ hồi con chưa biết chữ.
Côn cười nũng gỡ gượng với mẹ:
- Con...con quên khuấy. Tệ quá. Mẹ đã khai tâm cho con bằng chữ Hiếu.
- Con thử nhớ lại xem mẹ đã khai tâm bằng chữ Hiếu cho cách chi nào?
Mẹ đã lấy hòn than củi viết lên nhà bốn chữ: Nhị Thập Tứ Hiếu. Con còn nhớ, bữa đó mẹ dạy con: “Trong bốn chữ ni thì chữ Hiếu là khò nhớ, vì nhiều nét”. Mẹ còn giảng giải cho con cách viết, cách hiểu ý nghĩa của chữ Hiếu: “Con phải viết chữ Thổ ở trên trước, viết chữ Tử ở dưới sau, hai chữ ấy nối liền nhau bằng một nét phẩy từ hữu sang tả. Nghĩa của chữ Hiếu là đạo làm con phải hết lòng thờ kính cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ lúc già yếu, ốm đau. Cái nghĩa ấy được chứa đựng trong chữ Thổ là đất, Tử là con. Có đất mới có người. Tức là đất đẻ ra người. Đất là người mẹ vậy. Cho nên chữ Thổ ở trên chữ Tử…”
- Con nhớ được vậy kể cũng khá. Ngày đó con còn bé tí, mẹ cũng chỉ giảng giải được ngữ ấy thôi. Với lại, vốn chữ nghĩa của mẹ cũng ít ỏi. Nay con được cha con dạy tha hồ cho con hỏi nghĩa bóng, nghĩa đen, nghĩa rộng, nghĩa hẹp…Chỉ sợ con không có sức mà thâu nhận thôi.
Khiêm đã học xong cũng chạy vào với mẹ, nói:
- Em Côn đọc sách mẹ nghe, con đi gánh nước kẻo lát nữa tối mất mẹ ạ.
- Đợi cha về, ăn cơm đã con.
- Sợ tối quá không thấy lối mẹ ạ.
- Em sẽ cầm đèn đi gánh nước với anh – Lo gì anh.
Bỗng tiếng anh phó Tràng ngoài ngõ vọng vào:
- Bác cử, các cháu chờ cơm thầy cử sốt ruột lắm phải không?
- Mời chú vô nhởi (vào chơi). Bà cử Sắc đáp. Côn bỏ dở câu chuyện với mẹ, chạy ra sân đón chú phó Tràng. Khiêm bưng chiếc ghế đẩu đặt gần lối vào buồng dệt vải của mẹ. Bà cử Sắc ngừng tay thoi:
- Mời chú ngồi ghế. Chú đi mô về rứa?
- Em ở trên tuần về, bác ạ. – phó Tràng thường gọi bà cử Sắc bằng bác lúc thân mật.
- Chú ở đây chơi, chờ nhà tôi về cùng ăn cơm với gia đình cho vui, chú phó ạ.
- Dạ, đa tạ bác. Tui…tui có gặp thầy ở Bến Ngự, bác ạ.
- Chắc nhà tôi đến thăm cụ quận Cao.
- Tui đang lúi húi đi, nỏ để ý mấy ở đằng trước, bên tả, bên hữu chi cả. Đi khỏi dốc Nam Giao, sắp tới Bến Ngự nghe tiếng thầy cử gọi, tui chợt nhìn thì thấy cụ quần là áo lượt, ô đen, có hầu tráp lon ton chạy theo. Chỉ có thầy cử và một thầy nữa, nhiều râu nhưng hình như ít tuổi hơn thầy cử nhà ta thì không có hầu tráp. Thầy cử máy tui sang bên đường dặn tui về báo với bác đừng đợi cơm chiều. Có thể đến giờ đóng cửa thành thầy mới về thấu nhà.
Bà cử Sắc chợt nhớ ra:
- Phải rồi, ông nhà tôi đưa ông đầu xứ San (Phan Bội Châu) đến cụ Thượng Tấn. Ông đầu xứ San năm nay mới ngoài ba mươi tuổi mà râu rậm rì vậy đó, chú ạ.
Côn phân vân, hỏi mẹ:
- Chú San ngồi dạy học ở An Hòa, sao lại đi với cha về ngã ấy hả mẹ?
- Có việc thì xa mấy cũng phải đi, huống chi ở An Hòa sang Bến Ngự có xa mấy.
Chị Sắc đứng dậy bước đến phía mâm cơm:
- Mời chú ăn cơm với mẹ con tôi cho vui. Các con, đi ăn kẻo tối. Cha các con không về ăn cơm chiều đâu.
- Mời chú…cháu mời chú.
Khiêm, Côn mời phó Tràng rối rít. Anh phó Tràng cở chiếc áo ngoài lấm láp bụi dất, ngồi vào ở giữa Khiêm và Côn, cười hề hề:
- Ăn đũa tre với người có học, đừng cầm đũa ngọc của kẻ trọc phú ngu si. Phương ngôn dạy rứa đó bác cử ạ. Mà nghiệm thấy cũng đúng rứa. Từ ngày tôi được ông bà thầy cử đây coi như thân hữu, các cháu quý như người ruột thịt tui thấy đầu óc mình sáng ra. Như ta thường nói: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.”
Bà cử Sắc cười, nói vui:
- Đũa tre gắp mắm, đũa ngọc gắp giò hoa, chú ơi.
- Ăn cơm mắm đậm tình người. Nhưng khi được ăn giò hoa thì đừng để lòa mắt thịt. Cái khó của sự xử thế là đấy bác cử ạ.
- Chú nói đén cái sách ấy thì đạt tình thấu lý rồi. Ăn đi chú – bà cử Sắc tiếp thức ăn lên bát phó Tràng và cho hai con. Nghe chú phó Tràng nói chuyện sôi nổi với mẹ mình, Côn rất muốn tham gia, nhưng Côn giữ lễ: Trẻ con không được nói leo vào chuyện của người lớn. Vả lại, có chú phó Tràng trong bữa cơm, nhà vui hẳn lên, nhưng mắt Côn vẫn mong ngóng cha về…
***
Cử nhân Nguyễn Sinh Sắc thi đại khoa lần thứ hai, khoa Mậu Tuất (1898) không đậu. Nhưng ông không buồn như nhiều người lầm tưởng. Ông biết Hội đồng khảo thí đánh hỏng vì lý do thái độ chính trị của ông trong văn bài chứ không phải văn bài kém. Trong Hội đồng khảo thí có một số người thân hữu với ông, cho ông biết rõ kỳ đệ nhất thi Kinh nghĩa, kỳ đệ nhị thi chiếu, luận đều đạt nhiều số phân. Nhưng kỳ đệ tam thi văn sách luận bàn về Kinh truyện và về các việc trong lịch sử đều cao kiến, đúng cách, nhưng luận về thời sự thì lời lẽ, ý tưởng quá thẳng thắn, đụng chạm đến chính sách đương triều.
Thầy cử Sắc không băn khoăn nhiều về mình bị đánh hỏng thi, mà tiếc công lao và tấm lòng cao cả của mẹ vợ, của vợ đã bao nhiêu năm dồn hết vào đèn sách cho mình. Giờ đây ông lại lo lắng thêm công việc gỡ cho Phan Bội Châu cái án: “Hòa hiệp văn tự, chung thân bất đắc ứng thí” Phan Bội Châu hiện đang cần cái “Cử nhân hương thí” còn hơn ông cần cái: “tiến sĩ hay phó bảng hội thí”. Mấy tháng nay thầy cử Sắc giành một phần thời gian đưa Phan Bội Châu đến chơi nhà những người quen, hiện giữ trọng trách lớn tại triều, người nào cũng nhận giải cái án cho Phan, và ông Phan sẽ về Nghệ An trước Tết. Cụ Thượng Đào Tấn đã hứa với thầy cử Sắc trong tiệc rượu, hôm đưa Phan Bội Châu đến nhà: “Với trọng trách quan đứng đầu một Bộ, tới đây tôi sẽ trở lại đất Hồng Lam, tôi sẽ giúp đỡ Phan tiên sinh trở lại trường thi. Các quan Tế tửu Quốc Tử Giám, quan đốc học đều coi việc xóa án “Hòa hiệp văn tự” cho Phan tiên sinh là làm “một việc chí phải” là “nghĩa vô phản cố” (việc không có lý do gì đảo ngược lại, đã làm thì không thể lùi phải dấn thân bước tới cùng), là “nghĩa cử”, vì một mục đích cao cả, không phải chuyện tư lợi. Thầy cử nên yết kiến thêm cụ Thượng Cao thì việc của Phan tiên sinh sẽ êm thấm mọi bề”.
Cụ Cao Xuân Dục, một ông quan nổi tiếng về chăm lo việc học, chăm lo việc biên soạn sử sách dưới mấy triều vua. Cụ lập ra quỹ khuyến học để giúp đỡ những nho sinh giỏi ở Nghệ Tĩnh gặp khó khăn kinh tế. Vốn gốc của quỹ khuyến học là tiền hoa lợi của một số ruộng học điền, ruộng quan điền của cụ. Nguyễn Sinh Sắc, sau khi thi Hương trường Nghệ đỗ cử nhân, vào kinh đô Huế thi Hội khoa Ất Mùi (1985) không đỗ, được cụ Cao Xuân Dục giúp đỡ vào học Quốc Tử Giám. Việc Nguyễn Sinh Sắc chuyển cả vợ con vào kinh đô Huế, tậu nhà trong thành nội để ở học và sinh sống lâu dài là có phần giúp đỡ rất quan trọng của cụ Cao Xuân Dục. Khởi thủy, cụ Cao Xuân Dục là bạn chí thân của cụ Hồ Sĩ Tạo, một danh nho đất Hồng Lam. Đã một thời cụ Hồ Sĩ Tạo ngồi dạy học ở trong nhà cụ Hà Văn Cẩn ông ngoại của Nguyễn Sinh Sắc ở làng Mậu Tài, xã Chung Cự, gần làng Sen, huyện Nam Đàn. Ngày con gái, bà mẹ của Nguyễn Sinh Sắc là Hà Thị Hy, đẹp nhất vùng, hát ả đào, chơi đàn đáy nổi tiếng thường bưng cơm, rót nước hầu thầy học Hồ Sĩ Tạo ngồi dạy tại nhà cha mình. Chính bà Hà Thị Hy cũng được học năm ba chữ Thánh hiền với thầy Hồ Sĩ Tạo.
Lần đầu tiên, Nguyễn Sinh Sắc đến kinh đô Huế dự thi Hội, được gặp lại cụ Hồ Sĩ Tạo. Nhớ nghĩa cũ, Hồ Sĩ Tạo đã đưa Nguyễn Sinh Sắc đến người bạn cũ Cao Xuân Dục để gửi gắm. Vì cụ Hồ Sĩ Tạo ở kinh đô nhưng cụ không chịu ra làm quan.
Cụ Cao Xuân Dụ tuy là bậc đại thần, hàng cha chú, nhưng rất trọng nể học vấn uyên thâm và nhân cách kẻ sĩ của Nguyễn Sinh Sắc. Thầy cử Sắc đã đưa Phan Bội Châu đến yết kiến Cao Xuân Dục tại tư dinh. Cụ Cao cũng nghe tiếng “đầu xứ San”, một thần đồng của Nam Đàn. Trong cuộc tiếp xúc, đàm đạo, cụ càng yêu tài, trọng chí lớn của Phan Bội Châu. Cụ vui lòng giúp đỡ Phan Văn San được trở lại dự “khoa thi Hương Canh Tỵ” (1900). Nhưng phải đổi tên.
Chia tay Phan Bội Châu, trên đường về, Nguyễn Sinh Sắc thấy nhẹ lâng lâng như vừa cất khỏi vai một gánh nặng trĩu. Ông đinh ninh khoa thi năm Canh Tý Phan Bội Châu sẽ đạt ước nguyện. Khoa thi Hội Tân Sửu (1901) Phan Bội Châu sẽ cùng ông ứng thí! Ở khoa này, Phan Bội Châu không giành được bảng Rồng thì cũng có thể dấn thân trên con đường mà Phan đã lựa chọn từ buổi thiếu niên.
Nghĩ về bạn, chợt chạnh lòng về mình! Mẹ già thui thủi một thân trong vườn tre quạnh quẽ. Vợ mới tuổi ba mươi mà sức đã xuống mau vì sinh đẻ sớm, sớm phải gánh việc nhà, lo toan cho chồng con no cơm, sáng đèn, rạng sách. Ba con cùng trứng nước cả. Ơn sâu nghĩa nặng chưa báo đáp được! Việc đèn sách chưa xong! Nước mất, dân lầm than, là người tai mắt lại cam chịu tội “bất hiếu thân ân, bất trung quốc cố” hay sao? Tâm trí ông hiện lên lớp lớp bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu hình ảnh của các bậc đàn anh đã ngã xuống vì sự nghiệp chống giặc Pháp xâm lược, cứu nước, cứu nhà. Ông trăn trở nhiều, nghĩ ngợi nhiều về những tin mà Cao Xuân Dục, Biên tu Quốc Sử quán cho biết tại tư dinh cụ Cao Xuân Dục: Sau ngày Phan Đình Phùng hy sinh, nghĩa quân tan rã, ngoài Bắc Hoàng Hoa Thám đã ký hòa ước với chính phủ bảo hộ Pháp. Hai bên không tấn công nhau nữa. Vậy là, tiếng súng cứu nước đã tắt trên toàn bờ cõi! Từ bên nước Pháp, Tổng thống Pháp đã ký sắc lệnh lập ngôi Toàn quyền Đông Dương. Ông Sắc tự hỏi: Ông vua Tây đã ngồi lên đầu các ông vua của ba nước trên dải đất trước biển Đông này vĩnh viễn sao? Vua Thành Thái vừa ký dụ đánh thuế thân đối với mọi người từ mười tám đến sáu mươi tuổi. Dụ về thuế ruộng đất chia làm bốn hạng, bốn mức thuế khác nhau. Ruộng hạng nhất một đồng rưỡi, hạng ba tám hào, hạng tư bốn hào một mẫu.
Dụ về thuế thương chính, độc quyền (rượu, muối, thuốc phiện).
Dụ còn nói rõ, các khoản thuế này đều phải nộp bằng bạc Đông Dương. Tất cả các đạo dụ ấy của vua ban ra đều là thi hành sắc lệnh của Tống thống Pháp ký ngày 31 tháng 7 năm 1899 thành lập một ngân sách chung cho toàn cõi Đông Dương (Budget gesnesral de I’Indochine). Ngân sách này gồm các nguồn thuế gián thu, thuế thương chính và thuế độc quyền…
Ông đau đớn thốt lên: Ôi! Vua nước Nam, vua nước Lào, vua nước Miên đã trở thành các chân cai bổ thuế và thu thuế cho “đại quốc” nước Pháp! Để thu được thuế, để trị được dân, “đại đế” nước Pháp đã ra sắc lệnh cho phép Toàn quyền Đông Dương lập một tòa án tối cao, gọi là Hội đồng đề hình, xét xử những người bản xứ có hành động chống Pháp. Sắc lệnh còn nói rõ: Chính là trừng trị người ở hai xứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Ông lại kêu lên gần như rên rỉ: - Ôi! Tổ Quốc đang rên xiết. Ta đã học hai chữ Ái Quốc từ buổi khai tâm. Ta đã dạy cho con, cho học trò ta: Ái Quốc. Cơ trời vận nước này, ta phải làm gì cho đúng hai chữ thiêng liêng: Ái Quốc
Ông nhìn theo bờ sông Hương hun hút sương chiều, nói với đất trời: - Ngô hữu Tổ Quốc, hà cố nhi bị xâm phạm? Ngô hữu gia sản, hà cố nhi bị xâm đoạt? Ngô hữu thân thể, hà cố nhi bị câu thúc? Ngô hữu ngôn luận, trứ tác, hà cố nhi bị cấm ngôn thư? Đã tự coi là nền văn minh đại Pháp quốc sao lại không hiểu điều đơn giản: Tụ nhân nhi thành quốc, tụ quốc nhi thành thế giới. Thế giới chi thượng đồng vi nhân loại, giai nghi tương ái!...Hổ lang chi báo dã ưng, chuân chi chí dã. Nhiên bất văn hữu tự tương thực giả, hà dã, ái ky loại dã? Kim Phù nhân khả dĩ bất ái kỳ loại hồ?
Một giọng hò từ dòng sông Hương cất lên, nghe xa xa:
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá
Đò về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng ngã trăng chênh
Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non….
Giọng hò đã lắng sâu vào lòng, ông dừng bước. Bến đò đã hiện ra trước mặt. Mấy cây cọc đổ móng cầu đầu tiên đứng chơi vơi trên sông. Hai bờ sông vắng lặng. Vài con đò dọc trôi xuôi giữa dòng mờ mờ sương đục, một chiếc đò ngang đang rẽ nước sang sông. Ông đứng đợi đò trong bóng hoàng hôn sắp tắt.
PHẦN 13
Thầy cử Sắc cho học trò đem sách về nhà chép. Đám học trò con trai được thầy cho về sớm hơn mọi ngày, nháy mắt rủ nhau đi chơi ngoài thành Nội.
Khiêm, Côn cũng cất vội sách vở, bút, nghiên. Hai anh em từ nhà học xuống bếp ngồi cạnh mẹ, xin phép mẹ được lên cửa Thượng Tứ chơi với các bạn. Theo nếp nhà, giờ học, các con đi đâu, làm việc gì khác phải xin phép cha. Ngoài giờ học các con đều do mẹ sắp đặt công việc. Bà cử Sắc nói cho hai con biết tối nay nhà có khách. Quan Thượng Đào Tấn đến chào hỏi để đi Nghệ An nhậm chức Tổng Đốc An Tịnh, và đưa đến một người bạn du học nhiều năm ở bên Tây mới về. Bà cắt việc cho các con làm. Khiêm được giao phụ bếp cho mẹ. Côn đi ra quán mua rượu và về nhà hầu rượu với cha. Bà dặn con nói với chủ quán chỉ mua rượu Kim Lung (Hải Lăng, Quảng Trị). Không có thứ đó thì mới mua rượu Thanh Thủy. Quan Đào Tấn không thiếu nơi mời tiệc tùng, yến ẩm với các thứ sơn hào hải vị, nhưng cụ không thích, chẳng qua vì xử thế mà cụ phải có mặt ở những nơi đó. Cụ thích có tình bạn. Đến với tình bạn và chén rượu Kim Lung hoặc Thanh Thủy nhắm với nem An Cựu, chút mắm chấm thịt heo luộc. Bữa nay bà cử Sắc đãi cụ Thượng Đào Tấn và ông khách mới ở Tây về món thấu trộn. Thầy cử Sắc cũng rất thích cái món nhiều vị cay chua chát đắng mặn ngọt này.
Trời xâm xẩm chiều. Thầy cử Sắc khăn áo chỉnh tề ra ngõ đợi khách. Côn được cha mẹ cho hầu rượu, cũng mặc áo dài thâm, quần thô bố trắng, đeo vòng bạc, chân đi guốc quai ngang, mũi bằng, theo cha đón khách. Hai cha con đi qua đi lại trước ngõ.
Bất chợt Côn hỏi cha:
- Thưa cha, có ông quan lớn, có người cậy thần cậy thế, ăn của đút lót, đánh đập người vô tội mang thương tích mà chẳng bị trị tội chi cả? Lát nữa con muốn được hỏi cụ Thượng, cụ Thượng là Thượng thư Bộ Hình thưa cha?
Thầy cử Sắc hơi sững lại. Ông vui vẻ ngay:
- Được, con hay hỏi điều chưa biết là rất tốt. Háo vấn, tắc dụ, tự dụng tắc tiểu. Ham hỏi thì sẽ biết được đủ, tự cậy là mình đã biết rồi thì thấp kém mãi – Ông hỏi lại con:
- Dạ…Thưa cha, lúc nãy con ra quán mua rượu. Con thấy một đám đông đứng túm tụm quanh một người mình đầy máu, tóc cũng bết máu, mặt máu chảy tràn như gội nước mưa. Người ta nói với nhau, con nghe được. Kẻ đánh người là một tên quan người Nam đi với một tên Tây, có lính theo hầu. Bọn này vào quán ăn uống đã không trả đủ tiền cho chủ quán, lại còn bắt chủ quán cúi khom lưng làm ghế cho Tây đứng lên ngựa, vì bụng thằng Tây phệ như cái thúng, ông chủ quán không chịu. Bọn chúng đã đánh ông. Ông chủ quán đã chống cự lại và ném cái ghế vào đầu tên Tây, nhổ nước bọt vào mặt tên quan binh người mình. Có người nói việc này phải thưa trình với các ông chức việc sở tại, kiện lên quan Phủ Doãn. Nhưng nhiều người lại nói: Kiện chi mà kiện. Con kiến mà kiện củ khoai à? Quan Tây có tòa án Tây che chắn. Quan Nam có tòa án Nam che chắn. Làm thằng dân thì chỉ có xiềng xích chân, gông kẹp cổ. Chớ nhiễu sự mà càng tiền mất tật mang. Đi kiện chỉ có sạt nghiệp thêm. Con muốn hỏi cụ Thượng hay cha hỏi cụ vậy, cha?
Thầy cử Sắc thở dài rất khẽ, ông nói giọng buồn rầu:
- Cụ Thượng Tấn là một bậc hiền nhân, một trọng thần liêm chính. Nhưng cụ cũng chỉ như một cái nón che mát được cái đầu, không che nổi cả bầu trời này con ạ. Còn pháp luật ư? Pháp luật là để trị dân. Pháp luật đâu có trị người làm ra phá luật hả con! Con cứ hình dung pháp luật cũng giống như một cái trạm gác có cây sào chắn ngang đường, người lương thiện đi tới đó dừng lại, đợi được lệnh mới đi tiếp, kẻ gian giảo chúng tránh đường khác, hoặc chui qua cây sào chắn ngang. Kẻ có quyền thì bước qua cây sào bất cứ lúc nào.
Cha con mãi nói chuyện, lúc ngước nhìn đã thấy hai vị khách đang rảo bước tới. Thầy cử Sắc sửa lại cổ áo, sải bước lên phía khách. Côn đi đằng sau cha. Thầy cử Sắc dừng bước, hai bàn chân trong đôi guốc mũi cuốn đứng thế chữ bát, hai bàn tay úp hình búp sen trước ngực.
- Kính chào đại nhân, kính chào tiên sinh.
- Cháu kính cụ, kính quan bác ạ.
Cụ Đào Tấn và vị khách cùng đi đáp lễ hai cha con thầy cử Sắc. Cụ Đào đứng nép về bên phải, để vị khách mới được rõ diện mạo. Thầy cử Sắc hai tay buông thõng, mắt chớp sáng. Ông nhận ra người bạn cũ:
- Ôi cha! Huynh! Hiền huynh Lê Văn!
Ông Lê Văn cười hiền từ, bước đến, tay nắm chặt tay:
- Tôi rất bất ngờ, bác lại nhận được ngay ra tôi! Thập niên bất tái kiến chứ ít chi nữa!
- Với chúng ta – ông Sắc nói – Nhất kiến thập niện tư.
Cụ Đào Tấn tiếng trong như chuông và ấm:
- Ngày xưa cụ Nguyễn Du đã “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!” Còn hai tiên sinh ngày nay thì “Mười đông xa cách mà giờ gặp đây”
- Đa tạ cụ lớn đã đem lại sự hạnh ngộ này cho chúng tôi. Xin mời cụ và bác vào nhà kẻo lạnh.
Ông Lê Văn vừa đi vừa nhìn Côn âu yếm, hỏi:
- Cháu này có phải là cháu Côn, con thứ của bác không?
Con hơi lúng túng nhìn cha.
- Thưa phải – Ông cử Sắc ngạc nhiên đáp và gạn hỏi.
- Bác nhận ra ngay cháu là con trai thứ của tôi, lại biết được cả tên cháu nữa. Thiệt tình đa tạ…
- Tôi được cụ Thượng đây – Ông chìa bàn tay sang phía cụ Đào Tấn – cho biết về cậu con trai thứ của bác có thiên khiếu đặc biệt.
Nghe bạn mình nói về mình, Côn cảm thấy hai tai nóng bừng, liền lễ phép tìm cớ chạy vào nhà trước:
- Kính cụ…Kính bác…Cháu xin phép vô nhà trước để lên đèn
- Cháu ơi - ông Lê Văn gọi Côn lại – Cháu gọi là chú thôi nhé
- Dạ cháu xin vâng lời ạ.
Ba người kề vai sánh bước. Cụ Đào Tấn hơn ông cử Sắc mười tám tuổi, ông Lê Văn kém ông cử Sắc năm tuổi. Tuy tuổi tác chênh lệch nhưng ba ông đồng điệu, đồng tâm. Họ ung dung thanh thản, những lá trúc vàng rắc trên mặt đất mịn màng trước ngõ. Ba nhà nho dừng bước trên bờ giậu xanh ngắm nhìn mảnh vườn nho nhỏ.
Cụ Đào Tấn nói với ông Lê Văn:
- Lê tiên sinh chắc cũng nghĩ như tôi: Người có nhãn quan rộng lớn thì dù phải ở vào một địa thế eo hẹp vẫn tạo ra được một thế giới phong phú. Ngôi nhả bé nhỏ vẻn vẹn ba gian với túp nhà bếp mà là một gia phong băng tuyết, một trường học, một nơi hun đúc cho tương lai những mầm non đầy hứa hẹn. Và, mảnh vườn này chó nằm thừa đuôi thế mà ông bà cử đã trồng được những cây hoa, cây cảnh đẹp mắt, hương thơm, có một hàng xoan đào mập mạp thế kia, dăm năm nữa đủ gỗ để làm một căn nhà khang trang.
- Thưa cụ, nhà bác cử với tôi là tình cố cựu. Hồi còn là nho sinh, bác cử lưu tâm đến sách “Thập niên thụ mộc, bách tuệ dục tài.”
Cụ Đào Tấn cười tươi, hỏi vui ông cử Sắc:
- Thầy cử trù liệu ở hẳn trên đất ni sao mà trồng xoan, lại còn cả ba cây mít con kia nữa.
- Thưa cụ lớn ai mà có thể ngồi yên giữa thời buổi Quốc nạn, dân bần! Nhưng ở đâu thì phải lo việc an cư ngày đó. Dù có phải ra đi lúc cây trên luống đất mình trồng chưa có quả thì người đến sau sẽ hưởng.
Cụ Đào Tấn, ông Lê Văn xoay nghiên người về phía thầy cử Sắc với cử chỉ thành kính, tâm đắc. Khách chủ đã vào đến sân. Bà cử Sắc từ trong nhà bước ra, áo dài thay vải, bốn dải thắt lưng màu hoa lý, màu hoa sim duyên dáng, phong độ đoan trang, chào khách.
- Kính cụ lớn, kính ông lớn đã quá bộ đến tệ xá chúng tôi giữa ngày đông tháng giá ni
- Cảm tạ bà cử. Tôi là thân bằng của ông bà rồi mà. Đây mới là tân khách của ông bà – Đào Tấn giới thiệu ông Lê Văn.
Bà cử Sắc đáp lại bằng cử chỉ cúi chào, ông Lê Văn chắp tay phái trước, thưa lại.
- Đa tạ bác, chúng ta là chỗ thân tình, đồng châu, đồng quận với nhau mà!
Nguyễn Sinh Sắc nói với vợ:
- Bác Lê Văn, bạn đồng môn cũ của tôi. Bác đi du học bên Tây về. May mắn được cụ Thượng đưa lại cho chúng ta cuộc tái ngộ bất ngờ này.
- Dạ, đa tạ cụ, xin lỗi bác vì tôi chưa rõ tình cố cựu ấy…
Ông cử Sắc đưa khách vào nhà. Bà cử Sắc cho hai con bưng hai thau nước đặt lên hai thau nước đặt lên hai cái giã gỗ ở thềm nhà. Ông cử Sắc mời khách rửa tay.
Bàn trà đã bày biện sẵn. Cụ Đào Tấn, ông Nguyễn Sinh Sắc, ông Lê Văn ngồi thành thế ba chiều đối diện. Côn rót ba chén chè sen thơm ngạt ngào đặt vào khay trà. Ông Sắc mời khay dùng trà. Chủ khách, mỗi người nâng chén trà lên từ từ, mắt giao hoan, bàn tay trái che kín miệng khi nhấp trà
Bà cử Sắc bưng cái đĩa bạt trúc long, đựng nậm rượu, bốn chén sứ men Đông Thanh nhỏ như bốn cái chũm cau – Đây là lễ chính thức chào mừng khách văn của chồng đến chơi nhà. Bà rót sẵn rượu vào các chén mời khách.
- Thưa cự Thượng. Cụ là bậc phụ mẫu, lấy nhân nghĩa, lấy bằng hữu làm trọng mà đến chơi nơi hàn sĩ ni. Cả gia đình chúng tôi rất biết ơn tri ngộ. Thưa bác Lê Văn. Bác với ông nhà tôi là bạn hiền nghĩa cũ, từ muôn dặm cánh bằng tìm đến. Vợ chồng con cái chúng tôi xin đa tạ tấm tình cao cả của bác. Với chén rượu lạt lòng thành, xin mời cụ và mời bác cùng ông nhà tôi nâng chén tẩy trần.
Khách chủ đều nâng chén.
- Xin mời bác cử cùng nâng chén với chúng tôi – Cụ Đào Tấn mời. Ông Văn tiếp lời – cho tôi được gọi bà bằng chị cả, lời thân mật nhất! Xin chị cả cùng nâng chén đoàn viên.
Ba ông đều cạn chén, bà cử Sắc chỉ nhấp một tí rượu.
Mọi người đặt chén xuống. Côn lại rót tiếp rượu vào chén rồi lui ra phía sau với chú mèo nằm khoanh tròn hưởng sự vuốt ve của Côn. Khiêm thì vẫn ngồi ở gian buồng trong vừa canh mâm cơm vừa tranh thủ đọc sách trước ngọn đèn dầu khơi to, ánh sáng tràn ra sân.
Cụ Đào Tấn giọng từ tốn, khoan thai:
- Thê hiền phu đạo trọng. Thưa bà cử, bà đúng là bậc hiền thê minh đức.
- Bẩm cụ....không dám nghĩ vậy – Bà cử Sắc bối rối.
- Thư bà, sau cuộc vui sum họp này, tôi trở lại đất Nghệ, quê hương của ông bà và Lê tiên sinh. Rồi chưa biết bao giờ tôi lại có được những buổi tối tình bạn tình văn ở trong một nếp nhà ấm cúng này. Vậy nên, tôi xin được nói với bà những điều tôi hằng kính trọng bà từ bấy lâu nay. Nhìn cái cung cách bà nuôi chồng, nuôi con đèn sách tôi càng nhớ mẫu thân tôi. Gia cảnh song thân tôi “thường thường bậc trung” của đất Tuy Phước. Mẫu thân tôi cũng bấm bụng giúp chồng đèn sách, nhưng phụ thân tôi đã không thành đạt. Song thân tôi lại ký thác vào tôi. Tôi mơ một bảng Xuân (đỗ đại khoa) vừa đẹp ước mơ của cha mẹ, vừa là chí học của tôi. Cho nên tôi đặt cho mình một tên hiệu Mộng Mai. Hoa mai nở về mùa xuân. Nhưng, tôi đã không đạt được mơ ước. Tôi chỉ chiếm được một chút bảng Hổ (cử nhân) rồi đã phải vào con đường quan trường. Sự thăng tiến của tôi không phải bằng cái “thang lưng dân”, “thang lưỡi mình” mà lại bằng cái “thang gánh hát”. Thưa bà, tôi nhớ ơn mẫu thân tôi đã không quản đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương để cho con theo đòi đèn sách bằng người, tôi càng quý, càng trọng các bà mẹ Nghệ An, Hà Tĩnh đã nuôi chồng, nuôi con thành những ông Nghè (tiến sĩ), ông Cống (cử nhân) bằng mo cơm, quả cà, mà bà là hiện hữu tiêu biểu cho những bà mẹ cao cả ấy. Dễ có mấy người được như bà, để mẹ già, con gái thơ ngây ở lại làng quê heo hút, quảy gánh, bế con trẩy Kinh nuôi chồng, nuôi con đèn sách…..
Bà cử Sắc ngồi bên mép phản khép nép, rất mỏi nhưng không dám nhúc nhích e chừng vô lễ trước mặt một bậc cao niên, khách quý của chồng, bà luôn luôn điểm tiếng “dạ”, tiếng “đa tạ cụ”….
Ông Lê Văn nghe được những lời cụ Đào Tấn, ông càng kính nể người vợ hiền của bạn. Ông là người vốn ít nói bằng lời mà thường nói bằng cử chỉ sắc thái. Nhưng trước một gia phong môn đức của bạn, ông đã không kìm được con tim nghệ sĩ của mình, ông nói bằng một niềm xúc động tuôn trào:
- Thưa chị cả. Được yết kiến chị hôm nay, mà lòng kính trọng chị tôi đã có hơn từ mười năm về trước. Bởi chúng ta có một mối quan hệ tình cảm sâu xa. Thân sinh của chị cả, phụ thân của tôi là đồng khoa thi Hương trường Nghệ. Tuy có sự học tài thi phận khác nhau, phụ thân tôi phải ra làm quan, thân sinh chị cả mở trường dạy học, nhưng hai cụ vẫn giữ trọn tình cố cựu – ông nhìn Đào Tấn giọng nói càng đằm thắm – Phụ thân tôi tuy làm quan tận ngoài Bắc Kỳ, nhưng nghe danh cụ Thượng Tấn, phụ thân tôi trong một dịp về thăm quê, hai cụ đã gặp nhau và trở thành tri kỷ - ông bà cử Sắc đều nhìn cụ Đào Tấn trìu mến. Cụ Đào Tấn giọng ấm áp – Tất cả chúng ta ngồi đây đều cùng chung một dây thân tình bằng hữu cả - không khí tươi tắn, hồn nhiên hẳn lên. Ông Lê Văn nói tiếp – rồi bác Nguyễn Sinh Sắc lại từ Nam Đàn xuống Nghi Lộc học lớp bồi thi (bồi dưỡng để đi thi) với thầy Nguyễn Thức Tự. Tôi là lớp học trò nhỏ của thầy Tự, nhưng lại chơi thân với bác cử đây. Bằng hữu như huynh đệ. Tôi biết chị, kính trọng chị từ ngày ấy, chị là người chị cả của tôi từ ngày ấy.
Gương mặt thanh tú của bà cử Sắc phảng phất sự ngượng ngập và cảm kích. Bà nhìn ngọn đèn như truyền ánh sáng mắt mình vào đó, giọng nhỏ nhẹ:
- Là phận đàn bà, nơi xó nhà với bếp núc, tôi xin có một vài lời thô thiển…Các cụ của chúng ta và cụ Thượng đây đã có một nghĩa trọng tình cao, rồi “vì cây dây quấn” bác với ông nhà tôi lại xây đắp thêm cho tình càng đẹp, nghĩa càng hiền. Cụ Thượng là bậc quan trên, bậc cha chú mà lượng hải hà nên mới có một tình bạn vong niên hiếm thấy như vậy! Tôi thường mong mỏi: Chồng mình có nhiều bạn tốt là con mình có nhiều thầy học. Vì cho vàng đã quý, cho trí càng quý gấp trăm ngàn lần.
Cụ Đào Tấn mắt như bừng sáng, nâng chén rượu lên ngang tầm giọng hào hứng xúc động:
- Tôi kính chào bà một bậc trí nhân. Tôi chào bà vợ một bậc trí nhân. Tôi chào bà mẹ của những trí nhân. Tôi xin phép bà – Dạ không dám thưa cụ - bà cử Sắc đỡ lời – tôi mạn phép hai tiên sinh – Xin cụ lượng thứ - ông Sắc, ông Lê Văn cùng nói – Tôi xin phép được nói về sự hiểu ý nghĩa câu nói của bà. Bà nói nôm na: “Cho vàng đã quý, cho trí càng quý gấp trăm ngàn lần…”chữ “trí” của bà nói là từ gốc của chữ Thánh hiền: “Trí nhân nhi bất trí ư nhân”. Tôi hiểu là dắt người ta đến mình, không để mình cho người ta dắt đi. Suy rộng ra, chữ trí là thu hút tất thảy những chân tri, chân thực vào đầu óc mình, tức là “trí tri”, dẫn dắt hết thảy các sự vật về tình, về lý ở khắp thiên hạ đến với mình, tức là “cách vật”. Ấy là, Trí thi tại cách vật. Có nghĩa là, ở đời con người ta đều phải lo trước hết là trí tri, mà trí tri ở tại cách vật. Tôi hiểu chữ Trí trong thành ngữ của bà nói với chúng ta như vậy, thưa tiên sinh
Ông cử Sắc nói:
- Thưa cụ, những lời cụ luận giải đã thâu tóm được cái tinh lõi của tư tưởng trong sách Đại học. Cái hay của sách Đại học là dạy con người ta lấy cái sự học làm một cái đạo. Học đến kỳ thấu triệt hết mọi lẽ trên trời, dưới đất, giữa nhân gian. Hiểu biết được vậy là đạt được đạo Đại học. Tức là Đạo làm người. Vì người có “Đại học chi đạo” thì phải có đức sáng “minh minh đức”. Cái đức sáng ấy không ở trong sách đọc lóa mắt, không ở trong lời nói hoa mỹ nghe nhiễu tai. Mà người thương người, đùm bọc lấy nhau, ai cũng như ai. Cả thiên hạ một nhà – “thân dân”, một cách nói khác: “Từ than mà gia, từ gia mà quốc, từ quốc mà thiên hạ qui tụ ở trường Đại học. Vậy nên, có thành được “Đại học chi đạo” thì phải có chí và có minh. Hữu chí giả, sự cánh thành. Người có chí thì việc ắt sẽ nên. Người có chí đem được cái đức sáng “minh minh đức” cho đời, cho thiên hạ được nhờ thì đó là bậc chân nhân vậy.
Ông Lê Văn vốn dĩ ít nói, trầm tĩnh, trong cuộc vui cùng bạn cũ lâu ngày gặp nhau này, ông cởi mở trong chuyện trò, đàm luận. Ông tán thành với quan niệm của cụ Đào Tấn và ông cử Sắc luận về chữ Trí trong câu thành ngữ của bà cử Sắc. Ông còn đề cập đén thuyết nhân ái của các nhà chân nho, so sánh với thuyết tự do, bình đẳng, bác ái của các nhà tư tưởng Pháp. Từ nãy Nguyễn Sinh Côn ngồi bên con mèo lắng sâu cả tâm trí vào dòng đàm đạo của người lớn. Bỗng Côn đứng dậy, tay vẫn còn ôm con mèo, giọng nói lễ phép, rành rõ:
- Kính cụ….thưa chú….thưa cha mẹ, con mạn phép được hỏi một…một điều lạ mà con chưa hiểu. Bà cử Sắc nhắc khẽ con:
- Con thả con mèo xuống chứ! – Côn sực nhớ đến con mèo đang ngủ trong tay mình. Hơi lúng túng thả con mèo xuống ghế, Côn đứng sát vào bên mẹ. Bà cử Sắc vòng tay qua sau lưng con trìu mến, những con mắt trĩu nặng ưu tư của Đào Tấn, Lê Văn dành cho một cái nhìn âu yếm, cảm phục cho Côn. Cụ Đào Tấn nói: - Bác đã từng được biết cháu mỗi lần bác trò chuyện với thân sinh cháu, sự có mặt của cháu bao giờ cũng đặt ra được một vài câu hỏi nó vượt lên trên tuổi đời của cháu. – Cụ Đào Tấn nhìn ông Lê Văn, nói tiếp – có lẽ cháu Côn có điều muốn hỏi tiên sinh.
Ông Văn nhắc Côn:
- Chú rất vui, rất mong đợi câu hỏi của cháu.
Côn e ấp, bồi hồi, nhìn thoáng cha, tay vuốt lọn tóc đuôi gà của mẹ. Ông cử Sắc nói giọng vui với con mà nét mặt rất nghiêm vì ông thầm e ngại con mình sẽ hỏi vấn đề pháp luật như lúc ở ngoài ngõ.
- Cụ Thượng và bác Văn đã nguyên lượng cho con được phép hỏi đó – bà cử Sắc tiếp lời chồng – “Xin cụ Thượng và bác lượng thứ cho cháu. Nghe điều lạ, thấy việc khác trước mắt là cháu nó hỏi, lắm lúc cháu hỏi ngược lại với sự việc thông thường nữa kia…”
Côn khoanh tay, nói:
- Cháu nghe bác nói – Ông Văn sửa lại ngay: - Cháu gọi chú đừng gọi bác – Dạ thưa chú, bên Tây có những nhà tư tưởng, có phải các nhà tư tưởng cũng như Chư tử không ạ?
- Cháu hiểu cách đó cũng đúng, cháu ạ.
- Thưa chú, các Chư tử ở bên Tây cũng viết sách dạy về tự do, bình đảng, bác ái. Có thật vậy không chú ?
- Bên Tây có rất nhiều loại sách hay do các nhà tư tưởng, các văn sĩ viết dạy cho người ta sống tốt với nhau. Nghĩa là họ sống văn minh hơn ta, cháu ạ.
- Thưa chú, sao người Tây lại sang cướp nước ta, giết hại dân ta hả chú? Ông Lê Văn, cụ Đào Tấn và vợ chồng ông Nguyễn Sinh Sắc đều ngỡ ngàng nhìn nhau. Đôi mắt thơ ngây của Côn cũng hơi ngơ ngác vì một sự im lặng của người lớn
Ông Văn nhấp một tí rượu:
- Chú còn có những dịp qua lại với song thân của cháu. Chú sẽ kể cháu nghe những việc chú thấy, những sách chú đọc được ở bên Tây, và cháu cũng sẽ nói với chú về sự suy nghĩ của cháu. Điều cháu vừa hỏi, chú tạm so sánh để cháu suy ra. Khổng Tử và các Chư tử bên Tàu đã viết ra hàng trăm pho sách dạy cho người ta sống có đạo lý – Nhất tự đồng nhan. Nhiều người học và hành được gần như sách dạy. Những cũng rất nhiều người học sách Thánh hiền mà lại làm phản Thánh hiền. Vì vậy, người Tàu đã nhiều lần cướp nước ta, cai trị dân ta, vừa đưa sách Thánh hiền vào nước ta. Dân ta học chữ Tàu, học chữ Thánh hiền bên Tàu, nhưng dân ta chống giặc phương Bắc đến cùng.
- Thưa chú, cháu đã rõ ạ.
- Chớ coi thường trẻ con không hiểu chuyện đại sự - Đào Tấn nói.
Bà cử Sắc thấy đã đến lúc mình cần lui vào để cuộc đàm đạo của chồng và bạn được tự nhiên. Bà đỡ lời con:
- Chúng ta còn được nhiều lần đón bác Văn đến tệ xá ni, tha hồ cho con học hỏi bác. Giờ để cụ Thượng và bác chuyện trò với cha con, con đừng quấy nữa. Kính cụ, kính bác cùng với ông nhà tôi tự nhiên cho ạ.
Bà cử Sắc đứng lên cáo từ, hai vị khách chắp tay đáp lễ. Cụ Đào Tấn chào tiếp một lời trang nhã:
- Kính bà…thánh khổn hiền quan (buồng thánh cửa hiền).
- Xin đa tạ
Ba mẹ con bà cử Sắc ngồi vào quanh mâm cơm. Con mèo ngồi ngoan ngoãn bên Côn. Không kêu gào, không nhìn ngó vào mâm. Bà cử Sắc nhắc Côn:
- Con ăn lẹ lên để lúc vào tuần nhấm con ra giúp cha hầu rượu khách.
Khiêm bưng bát cơm trên tay còn hỏi mẹ:
- Lúc mẹ chào trở vô, cụ Thượng chào lại mẹ một câu chữ “Thánh khổn hiển quan” nghĩa là gì hả mẹ.
- Là buồng trong của Thánh nhân, cửa ngoài của Hiền nhân, ý cụ Thượng nói nhà ta là nơi truyền thụ đạo lý của Thánh hiền, sống nếp nhà đạo lý.
Nhân lúc nói với con về lời khen nếp nhà của mình của một ông quan đại thần có tiếng thanh liêm, hay chữ, tài hoa, đức cao đạo trọng, bà cử Sắc vừa tiếp thức ăn cho con vừa dặn dò:
- Hai anh em con còn phải ngoan, còn phải chăm chỉ mọi việc hơn nữa. Trước nhất là việc học. Khiêm là anh, phải làm gương trước tiên là học chăm, học giỏi. Thứ đến là hai anh em giúp mẹ việc bếp nước, dọn dẹp nhà cửa gọn gàng sạch sẽ. Nhà mình luôn luôn có khách văn của cha, học trò đông, một ngày mấy lớp ra vào, cho nên nhà cửa sân vườn phải quét dọn liền tay. Các con nhìn gương cha mà tu thân. Một đêm cha các con chỉ nghỉ lưng vài canh, còn thì miệt mài đèn sách. Đỗ đại khoa hay không đỗ, cha các con cũng say chữ như con ong say hoa. Ban ngày cha các con vừa dạy hết lớp học trò sắp thi cử, lại đón lớp học trò sắp vào Kinh, Truyện. Lại còn phải kèm cả lớp mới học Tam Tự Kinh, Đồng Ấu Ngũ Ngôn Thi…Vậy mà cha các con vẫn có thì giờ đàm đạo thời thế, thi phú với bạn văn, vẫn tiếp chuyện vui vẻ những người láng giềng đến xin chữ đại tự để thờ, xin thăm mạch cho đơn thuốc chữa bệnh.
Côn đặt bát đũa xuống mâm nhìn mẹ, thủ thỉ:
- Mẹ ơi. Con thử nói theo ý con, anh cả nghe có được không nhá. Mẹ chỉ việc dệt vải, đi chợ bán vải, mua sợi về rồi lại dệt….Con quét dọn nhà, sân, rửa bát, rửa ấm chén, cho gà ăn, tưới cây cảnh, quạt nước hầu trà cha, buổi tối quay sợi giúp mẹ sau lúc con học bài xong. Còn anh cả thì nấu cơm, gánh nước đi chợ mua thức ăn, quay sợi sau lúc đã thuộc bài
- Em Côn chia việc ra rứa, con thấy phải rồi mẹ ạ.
- Ừ, được rứa thì tốt quá. Các con biết chia việc ra cùng làm giúp mẹ bớt được việc vặt thì mẹ dệt được nhiều hơn.
- Mẹ cũng phải có lúc nghỉ ngơi chứ, mẹ ốm thì…
- Các con đừng lo, mẹ cũng lượng sức mình chứ.
Khiêm chợt nhớ ra, nhìn em nói:
- Còn hai việc nữa mà em chưa nói là phần ai.
- Anh nhắc ra luôn đi anh
- Này nhá. Việc củi đun bếp. Việc mua rượu cho cha. Cha không uống nhiều rượu, nhưng tối mô cha cũng phải hai chén bạch đinh, sáng sớm một chén.
- Ừ nhể, em nhận việc mua rượu. Còn việc đi kiếm củi đun thì hai anh em cùng đi. Vì khi có củi mẹ mua về, to thanh phải chẻ thì anh chẻ em bê vào nhà bếp gọn, được chưa anh.
- Thôi, em lo việc mua rượu. Vì em là chân hầu trà hầu rượu của cha, còn việc chẻ củi anh lo tất.
Khiêm chặc lưỡi, nói giọng than thở với em:
- Chà! Anh học chậm nhớ, chậm biết, lại nằm xuống là ngủ khì. Nhận phần việc rồi mà sợ không làm tròn vì “ngôn dĩ hành nan”
- Dạ. Em cũng nghĩ như anh. Nhưng, cha còn dạy anh em mình phải “ngôn hành tương cố”. Cứ nhìn thấy cha mẹ vất vả là anh em mình gắn sức làm được cả anh ạ.
- Anh than thở với em một tiếng cho ra vẻ lo “việc hệ trọng”
Bà cử Sắc vui như nở từng tấc dạ thấy các con tự bảo ban nhau lo việc nhà, việc học đỡ đần cho cha mẹ. Bà giục hai con:
- Các con ra rửa tay rửa nặt đi. Bữa nay mẹ dọn dẹp bát đĩa cho. Các con lên nhà học hầu rượu khách. Sắp đến tuần nhấm rồi đó.
Côn đi với anh ra đến cửa còn nói với mẹ:
- Con tiếc cho chú phó Tràng bữa nay không có nhà mà nghe cho thỏa chí. Lúc vừa vào ngồi, cụ Thượng đã nói: “Tọa vị thu tâm” mẹ ạ
- Con hiểu nghĩa của câu ấy ra răng?
- Dạ, nghĩa là, ngồi đúc tâm trí lại mà cùng suy nghĩ phải vậy không hả mẹ?
Bà cử Sắc cười, giơ cao đèn cho con đi, nói khích lệ con:
- Ba mẹ con mình vừa rồi cũng là “Tọa vị thu tâm” đó, con ạ.
PHẦN 14.1
Ba người “Tọa vị thu tâm” từ lúc hoàng hôn tắt, đĩa dầu đã vơi mà uống chưa hết nậm rượi. Rượi không phải lạc thú của ba vị túc nho này. Hương rượu gọi nhớ về những miền sâu xa của ký ức họ. Ba vị “tọa vị thu tâm” nơi thành Nội mà bình diện họ suy nghĩ luận bàn trên cả đất nước, cả cổ kim, đông tây….
Lần đầu tiên ông cử nhân Nguyễn Sinh Sắc gặp một người bạn đã học cùng trường cùng quê đi du học từ bên Pháp về. Ông muốn được nghe bạn kể những điều mắt thấy tai nghe ở cái nước xa cách nước mình mấy trùng dương mà đem quân đến chiếm đóng nước ông, tàn sát, áp bức, bóc lột nhân dân ông? Ông đã hỏi bạn nhiều điều ông nghĩ từ lâu về nước Pháp, quốc thù của ông. Ông Lê Văn cũng đã chân thành nói với bạn sự hiểu biết của mình về nước Pháp. Nhưng vẫn chưa giải đáp được cho ông những câu hỏi của dân tộc hỏi ông, lịch sử hỏi ông.
Thượng thư Đào Tấn cũng một tâm trạng như ông cử Sắc. Nước Nam đã mất chủ. Còn vua với ai? Quan với ai? Cơ trời vận nước khó vần xoay! Biết bao anh hùng hào kiệt đã dám xả thân vì nước! Vẫn không cứu được nước! Đành nhận một lời an ủi. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.
Ba người một tâm sự. Lê Văn đã “dốc tâm sự” với bạn về thuyết Tây du của mình.
- Chính phủ bảo hộ Pháp, đã xuống trát cho Hội đồng cơ mật đại thần chọn lấy ba “cậu ấm” con của ba ông quan “có tiếng” ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và ở Nghệ An cho sang Tây học trường thuộc địa (École coloniale). Gọi là “đào tạo nhân tài phụng sự Tổ Quốc”. – Ông hơi đay giọng – riêng tỉnh Nghệ An, cái chính phủ bảo hộ và Nam triều ơ…a….coi như một xứ vậy.
Cụ Đào Tấn cười: - Giá được nhiều sự chọn lầm như trường hợp cụ thì dân ta được nhờ to – Ông Lê Văn cười nhị, nói tiếp:
- Họ đã chọn cái ông quan “có tiếng” ở Bắc Kỳ là Hoàng Cao Khải. Ông này đã lựa Hoàng Trọng Phu là con thứ, không để Hoàng Mạnh Trí là con trưởng đi. Ở Trung Kỳ là Thân Trọng Nhiếp. Ông này đưa con trưởng là Thân Trọng Huề đi. Vậy là họ đã chọn các con ông trọng thần, riêng phụ thân tôi họ đã chọn cho Nghệ An vì một lẽ khác. Phụ thân tôi chỉ là một ông quan cấp thấp, án sát nhưng lại có tiếng trong mắt giới sĩ phu xứ Nghệ, Chính phủ bảo hộ và Nam triều đang dùng chính sách vừa áp đảo vừa mua chuộc. Nghệ An chẳng thiếu chi các bậc nhất, nhị phẩm và “tận trung với Mẫu quốc”. Phụ thân tôi ngồi ghế quan trường với một nhân cách thế nào thì cụ Thượng và bác cử đều đã rõ. Cho nên phụ thân tôi rất khó xử trước việc phải cử con sang Tây học! Không cho con sang du học, tức khước từ sự “ân thưởng”, là thái độ bất hợp tác với chính phủ bảo hộ và chống lệnh triều đình. Mà, cho con đi Tây học thì các chiến hữu, các thân bằng cố cựu, các bậc tai mắt và bà con Nghệ An sẽ luận ra nhiều điều tiếng chắc chắn mang cái tiếng “quan án Nghiệm đã ngả theo Tây, cho con sang Tây học để về làm quan ngạch Tây”. Tương kế, tựu kế phụ thân tôi đành phải chọn lựa cái sách đưa con đi học. Những huynh trưởng tôi không đi. Ông có một tính cách sống cứng rắn, rạch ròi: nước ao không được chung nước giếng. Ông dứt khoát, người Nam mình không ăn chung mâm, không đi cùng đường, không ở cùng nhà với người Tây lang sa. Không học chữ Tây lang sa. Càng không thể sang cái đất Tây đế quốc sài lang để ăn học. Phụ thân tôi đã phải đưa tôi đi thay và khai tăng tuổi cho đủ tuổi qui định mười tám.
- Tiên sinh đi du học ít lâu thì tôi ngồi Tồng đốc An Tịnh. Rất may mắn được tiếp kiến cụ Án. Trong tình thâm giao, cụ cho tôi biết việc du học miễn cưỡng của tiên sinh. Cụ rất tin ở bản lĩnh của tiên sinh.
- Dạ thưa cụ và bác cử. Phụ thân tôi để tôi đi sang Tây với cái tuổi mười sáu là tin con hết mực. Người dặn tôi một lời, vẻn vẹn một lời trước lúc tôi rời khỏi Tổ quốc: “Chúng ta có thể thay đổi theo khí hậu, nhưng khí hậu không bao giờ thay đổi được chúng ta. Ở đâu, lúc nào con cũng phải nhớ cái điều ấy”.
Nguyễn Sinh Sắc rất tâm đắc với cái lời dặn con của cụ Án Nghiệm. Ông nhắc lại với Đào Tấn và ông Lê Văn về kỷ niệm những lần đã được gặp cụ án Lê Nghiệm ở nhà thầy Hoàng Xuân Đường, thầy Nguyễn Thức Tự.
Khiêm ngồi phía sau cha thầm thì:
- Chú Văn mới mười sáu tuổi đã sang Tây du học. Anh em mình mới đi từ xứ Nghệ An vô đây đã tưởng chúa lắm!
Côn nói với anh giọng quả quyết:
- Cái ngày vô đây, anh mới lên bảy, em mới lên năm tuổi mà đã đi xa từng ấy đường đất cũng là “á chúa” chứ đâu phải chơi đâu anh?
- Ngày đó anh suốt từ làng Chùa vô đây, còn em chỉ đi từng chặng, còn nữa là cha cõng, sướng nhất đời.
- Vì ngày đó em còn bé. Như bây giờ thì em đi được hết. Giá như bằng tuổi chú Văn em cũng sẽ đi như chú được.
- Chắc không?
- Mẹ vừa mới nhắc anh em mình là “Ngôn hành tương cố”. Nói và làm phải đi đôi với chứ anh.
Nghe ông Văn đang kể lúc đặt chân đến nước Pháp, Côn chùng giọng:
- Chú Văn đang nói lúc chú ở bên Tây, lắng nghe đã anh ơi.
Ông Văn ngồi tại kinh đô Huế, đang “tọa vị thu tâm” mà sự bàng hoàng, sự khâm phục cái mạnh, cái văn minh, giàu có của nước Pháp vẫn còn ám ảnh trong sắc thái ông nói chuyện:
- …..Đến nước Pháp, đến Ba-lê (Pari), mới thấm thía về những điều trần của ông Nguyễn Trường Tộ không thấu được tai vua Tự Đức mà còn bị quở là “đi xa về bịa đặt ra những việc kinh dị, làm gì có cái chuyện đèn thắp từng dãy chúc ngọn xuống mà vẫn sáng, không chảy dầu ra; xe chỉ có hai bánh ngồi lên đạp vo vo mà không ngã…”. Đến nước Pháp, tôi bị choáng ngợp, hoa cả mắt ngay từ khoảng khắc ban đầu. Ngồi trong tàu thủy của họ đã thấy cái sang trọng, sự tân tiến, không thiếu một thứ gì cứ như trong lâu đài vậy. Qua các địa dương sóng to, gió lớn con tàu cày dài trên biển, người trong tàu cứ việc ăn, nghỉ, chơi nhởi như trên đất liền. Bước chân vào miền đất đai của họ, thôi thì hết biết là mình đã lạc vào thế giới nào! Đến kinh đô Ba-lê càng thấy cái lộng lẫy, cái nguy nga trán lệ của kinh đô một đại cường quốc. Tất cả mọi cái đều xa lạ trước mắt mình! Cứ hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chỉ riêng cái việc đi lại gữa họ và ta cũng đã thấy xa nhau với vợi. Ở ta, phương tiện đi đường thủy có thuyền bè, chèo, chống bằng tay, bằng sức gió cánh buồm. Đi trên bộ là cáng, võng, xe ngựa độc mã, song mã, sang hơn hết là xe tứ mã. Ở bên Tây họ có hàng chục loại thuyền máy, tàu thủy đi dưới nước. Có những cái tàu to như mấy cái đình chắp nối lại. Chở hàng mấy trăm người, hàng hóa ở dưới đó. Đi trên bộ không biết cơ man nào là các loại xe, tàu, xe hai bánh, ba bánh, bốn bánh chạy vun vút, mù tít mắt. Rồi hỏa xa, chạy bằng than đốt, mỗi cái dài bằng hai ba chục gian nhà nối vào với nhau. Lại còn cái thứ điện xa (xe điện). Loại này là hàng em út của hỏa xa. Nhưng nó không phải đốt bằng than mà bằng điện. Cái thứ điện ấy thì thắp đèn không cần dầu, đun nấu không cần lửa than, lửa củi. Chính điện làm mã lực kéo tàu, kéo xe chạy trên bộ, dưới nước. Nhưng nó rất hung dữ, không biết điều khiển nó thì bị nó giật ngã lăn ra chết, thiêu cháy người ta thành than….Đường thiên lý, đường liên hương, đường trong thành thị, chợ búa của họ đều được lát đá, tráng nhựa bằng hơn chiếu trải, rộng rãi như sân gạch đình làng. Đường sá có bằng phẳng, rộng rãi như vậy thì xe cộ mới chạy mau được. Còn được cho hỏa xa, cho điện xa thì bằng sắt lồi sóng trâu thẳng tắp, bánh xe ngoạm vào các đường sóng trâu song hành ấy mà lăn. Các con đường thiên lý, thiên hương, liên thị phải qua sông họ bắc những cái cầu sắt cho hỏa xa đi, cầu xây đúc (cầu xi măng) cho xe bốn bánh, hai bánh, ba bánh đi. Có những con sông to hơn sồn Hương, sông Lam, có thể như sông Nhị hà mà họ vẫn làm được cầu cho xe chạy qua.
Cụ Đào Tấn tiếp lời:
- Thưa tiên sinh, Tây lục lộ ở đây cũng đang bắc cầu qua sông Hương ta đó. Ở ngoài Bắc Kỳ, họ cũng đang bắc cầu qua sông Nhị Hà, phía đông bắc thành Hà Nội.
Ông cử Sắc hỏi thêm Đào Tấn:
- Cầu chưa bắc xong, nghe nói họ đã dự định dùng tên của toàn quyền Đông Dương hiện thời đặt tên cho cái cầu ngoài Hà Nội. Cầu qua sông Hương được mang tên của Đức vua Thành Thái.
- Có như vậy ạ.
Ông cử Sắc giọng buồn buồn:
- Họ cai trị dân mình thì mọi thứ ở nước mình coi như quyền của họ, họ muốn đặt tên kẻ nào lên đất thiêng, vật quý của tổ tiên ta, của dân ta, chúng ta đều phải chịu. Ngay tại đến đô này, nhiều con đường đã khoác tên các ông Tây bên đó.
Ông Văn giọng thất vọng pha chút mỉa mai:
- Cả đến thành Nội này, trọng Đại Nội nữa, họ muốn áp đặt một cái tên là “la”, là “lơ”, là “đờ”… thì chúng ta cũng phải uống lưỡi mà gọi!
Côn ngồi bên anh Khiêm, khuất sau bóng cha, đứng phắt dậy! Tay nắm. Ánh đèn láp lánh trong ánh mắt nẩy lửa, gương mặt thơ ngây đã biến sắc, giọng đanh:
- Kính cụ Thượng, thưa chú, thưa cha….lẽ nào….chẳng lẽ….- Côn nghẹn ngào…- Chẳng lẽ nước Nam ta….Kính….cụ….thưa….chú….Ông Xẩm mù ở làng Chùa, quê ngoại cháu còn dám ca: “….Nước Nam ta răng lại có Tây? Thần dân tâu đánh, vua rằng chẳng nghe…!”
Bà cử Sắc đang ngồi dệt vải ở gian nhà trong dừng tay thoi, nhìn ra thấy con đứng trước lặng, gương mặt như bốc lửa! Bà muốn chạy ra nhắc nhở con….nhưng thấy bất tiện. bà bồn chồn lo lắng!....Ông cử Sắc cũng như cụ Đào Tấn, ông Lê Văn đều thất thần bất ngờ trước một đứa bé chưa đến tuổi lên mười mà có một phong thái một khí phách lớn. Cả ba vị chân nho đều có những cử chỉ bối rối nhìn Côn. Nhìn đằm thắm. Nhìn thán phục! Nhìn nghi nghi hoặc hoặc. Đây là Nguyễn Sinh Côn hay là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, tay cầm lá cờ thêu sáu chữ : “Phá cường địch báo Hoàng ân” từ miền lịch sử Bình Than hiện về chất vấn các ông!
Ông cử Sắc nhắc bàn tay ra khỏi cổ áo lụa mình, nói giọng còn mơ màng như vừa tỉnh giấc:
- Con ngồi xuống – Khiêm túm gấu áo em giật giật, nhắc em ngồi xuống ghế. Côn từ từ mở hai bàn tay và vòng vào trước ngực, ngồi xuống mắt vẫn long lanh nhìn cha. Ông cử Sắc nói: - Sự xúc nộ của con, cha rất trọng nể. Nghe các bác bề trên nói về tình cảnh nước Nam mình, người Nam mình mà con không nén nổi cơn xúc nộ, đó là một biểu hiện của khí phách. Cây tùng cây bá chịu được sương gió mùa đông từ lúc còn măng tơ, con ạ. Nhưng con còn một khuyết điểm tuy nhỏ cha vẫn phải nhắc: Cha đang có mặt tại đây mà con có cử chỉ ấy trước mặt những người bề trên là chưa thật có lễ, có phép. Cha đã thường dặn các con “Đức ngôn thịnh, lễ ngôn trung” kia mà – Ông quay sang nói với khách – Cháu Côn quá bồng bột đã có phần thất lễ, xin cụ Thượng và bác lượng thứ cho cháu.
- Thưa thầy cử - cụ Đào Tấn nói – tôi vẫn chưa hết sững sờ! Lạ lắm! Tự thấy mình đã ngoại cái tuổi “tri thiên mệnh” và gánh vác trên vai trách nhiệm “trọng thần” mà không dám nhìn thẳng vào tấn bi kịch bi thảm của đất nước. Cháu Côn, tuổi anh nhi mà trí lực lớn nên mới có cái xúc nộ ấy. Cháu Côn có quyền chất vấn chúng ta. Nước mất mà chúng ta không cứu được nước! – Ông nhìn sang phía Côn, giọng nói rất hồ hởi – phụ thân cháu và là thầy học của cha cháu chắc nhở sự khiếm khuyết của cháu, dặn cháu phải giữ lễ, ấy là lễ vậy. Bởi lẽ: Ái chi năng vật lao hồ. Đôn hậu dĩ sùng lễ - Cụ mở tráp lấy ra một cái gói mỏng bọc vải điều, và gọi Côn:
- Cháu lại đây, bác thưởng cháu tập thơ của bác. Tập Mộng Mai thảo ngâm. Đây là tâm sự, là tấm lòng của bác, của những người như phụ thân cháu, như bác Lê Văn. Với thiên tư cháu, bác tin cháu sẽ hiểu được thiên định này, hiểu được nhân tình thế thái….Hiểu được bác!
Nguyễn Sinh Côn cảm động, hai tay đón nhận tập thơ:
- Kính cụ, cháu còn thơ ngây, cháu đang học ăn học nói. Cụ và chú (Lê Văn) đã thứ lỗi cho sự vụng dại của cháu. Cụ còn thưởng cháu báu vật này! Cháu đội ơn cụ, cháu gắng sức học tấn tới để đền đáp công ơn cha mẹ cháu nuôi dạy, để xứng đáng với niềm tin của cụ trao cho cháu.
Ông Lê Văn lúc này mới thực sự nhận ra Côn, một em bé có tính cách đặc biệt mà ông đã được cụ Đào Tấn và các văn hữu thường nhắc tới như một hiện tượng thần đồng. Ông soi mắt ông vào mắt Côn. Ông buột miệng thốt lên – un enfant prodige – ông liền chuyển lại ngay - ở bên các nước phương Tây họ rất coi trọng các hiện tượng thần đồng và rất chủ tâm giáo dưỡng những em bé thần đồng để tài năng phát triển – Ông lại đưa cho Côn một tập ảnh chụp những bức tranh in màu. Ông nói:
- Cháu Khiêm nữa, lại đây với em cháu – Khiêm đứng bên em, hai anh em cùng chăm chú nhìn ông Văn chọn những tấm hình nhiều màu sắc chưa từng thầy bao giờ. Cụ Đào Tấn đã xem những tấm ảnh này trước rồi. Ông cử Sắc cũng không kém ngạc nhiên. Bà cử Sắc ngồi dệt vải phía buồng trong vẫn lắng nghe tất cả những câu chuyện ở phòng ngoài. Tiếng ông Lê Văn thủng thỉnh:
- Đây là bộ tranh nghệ thuật, các nhà họa sĩ vẽ bằng chất liệu sơn dầu. Người ta dùng máy chụp hình chụp lại rồi in ra nhiều bản thế này để nhiều người được xem. Những bản tranh gốc được luu giữ cẩn thận tại một nhà bảo tàng nghệ thuật. Chú học xong ba năm trường đào tạo người ra làm quan, chú kiếm cớ ở lại Ba-lê xin vô trường dạy vẽ tranh (Ecole des Eeaux Arts de Paris) những hơn bốn năm. Hai người sang Tây du học cùng chú, họ về nước đều làm quan to cả.
- Chú ơi – Khiêm nói – giá như bộ tranh Tố nữ, tranh ông nghè vinh quy, hứng dừa, đàn lợn….của ta mà cũng được chụp lại như ri kể cũng hay, phải không chú.
- Kỹ nghệ chụp ảnh rồi cũng sẽ có ở nước mình cháu ạ.
Côn ngắm nhìn những tấm ảnh nói:
- Chú ơi, chắc những bản tranh gốc nhìn sẽ còn sướng mắt hơn là chụp lại thế này?
Và các bộ tranh của ta mà cũng chụp ảnh để in ra làm nhiều bản rồi cũng không thích bằng bản gốc, chú nhỉ.
Ông Lê Văn lại một lần nữa sững sờ nhìn Côn, nói trầm giọng:
- Cháu! Cháu có con mắt hội họa! Cháu biết nhận xét, biết thưởng thức nghệ thuật. Cháu có năng khiếu nghệ thuật thực sự - Ông nói với ông Sắc và cụ Tấn – Chúng ta, thưa cụ Thượng và hiền huynh, chúng ta tin tưởng vào tiền đồ dân tộc ở lớp các cháu đây. Cháu Côn có con mắt tin tường vô cùng.
Cô và Khiêm biết ý người lớn đang nói chuyện với nhau, hai anh em lặng lẽ cầm bộ tranh lui vào trong buồng mẹ dệt vải. Côn đưa bộ cho mẹ rồi trở ra ngồi vào chỗ cũ, Khiêm ngồi lại trò chuyện với mẹ. Ông Văn trầm ngâm giây lát, nảy ra một nhận xét:
- Muốn hiểu lòng dạ người con gái thì hãy ngắm miệng lúc cô ta cười. Muốn biết người con trai có chí lớn thì nhìn vào đôi mắt lúc anh ta bắt gặp sự bất ngờ. Cháu Côn có đôi mắt ấy – Ông Lê Văn giọng tin tưởng – Cháu Côn lại được tiếp thụ nền giáo huấn của cha, một danh sư, của mẹ, một từ mẫu và lớn lên trong một gia phong mẫu mực, một hội kiến văn nhân này, ắt hẳn có nhiều triển vọng.
- Bác là người đã xuất dương tận Pháp quốc về, đã ở Hà Nội, đất ngàn năm văn vật của chúng ta, xin bác cho chúng tôi một lời khuyên về việc giáo dưỡng cháu Côn cũng như cháu Khiêm.
- Mạn phép cụ Thượng
- Kính lại tiên sinh – Đáo Tấn đáp lời
Ông Lê Văn nói tiếp – Theo thiển ý của tôi, quan bác nên cho cháu Côn học thêm chữ mới, cả cháu Khiêm nữa.
- Cảm tạ bác. Điều bác khuyên giúp tôi thêm vững tin hơn về sự suy nghĩ đã mấy năm nay. Có lần tôi đã trao đổi việc học chữ với cụ Thượng và một vài văn thân bằng hữu nữa. Hiện tại ai học chữ Quốc ngữ, nhất là chữ Pháp do chính phủ bảo hộ dạy, nhiều người coi là đã ngã lòng theo Tây. Bác từ nước Pháp về với vốn tri thức mới, chọn việc làm, làm theo sở nguyện, theo lương tâm mình đã chứng minh thêm sức mạnh bền vững của cốt cách người Nam nước ta. Hàng ngàn năm trước đây, bọn thống trị phương Bắc đã không thực hiện được hoàn toàn cái âm mưu dạy chữ Hán cho người Việt để biến tất cả những người tai mắt của dân ta làm tay sai đắc lực, trung thành với chúng. Ngày nay, bọn Tây dương làm sao lại dễ dàng thực hiện được cái âm mưu cũ rích ấy với chúng ta. Vì trái gió phải đưa con thuyền nan tạm lướt theo chiều gió đừng để ụp thuyền, những người trên con thuyền ấy một khi đã không quên bến cũ ắt hẳn có ngày trở về bến cũ.
Cụ Đào Tấn cười, vỗ vai ông Lê Văn:
- Đúng lắm. Thầy cử nói chí phải. Đây. Đây. Con thuyền này đã bạt sang Tây nay lại về bến cũ với chúng ta!
Ông Văn cố giữ nụ cười trên môi mình mà không cười nổi. Mắt u hoài, giọng nói của ông sâu lắng:
- Điều bác cử nói là châm ngôn, là chân tâm của một xử thế. Được ngồi tại đây, một tổ chim bằng, một nơi ươm mầm tài đức của bạn, chúng ta “xúc tát đàm tâm” với cụ Thượng, với bác cử, tôi không giấu lòng mình. Quả tình, tôi ở tại kinh đô Pháp hơn bảy năm, tôi dành thời gian đi dến các miền xa kinh đô, sang tận Ý Đại Lợi (Italia) để xem xét, tìm hiểu…Đi đến đâu, ở lại nơi nào tôi cũng không thể giải cởi được nhiều mắc mứu trong lòng: Những tên Tây sang cai trị dân tộc ta là một lũ quỷ sứ, lũ sói lang. Nhưng người Pháp trên quê hương họ lại khác. Rất lịch sự, văn minh, thành thật, cởi mở trong quan hệ giữa mọi người với nhau. Có những người rất giàu sang, có rất nhiều người nghèo đói. Cái nghèo đói ở bên đó so với dân mình, họ còn sướng hơn mình. Còn có người bóc lột người, người cai trị và người bị cai trị. Nhưng dân chúng đã được quyền tự do nhiều mặt vì vua, quan phong kiến đã bị xóa bỏ, lập nền cộng hòa, có quốc hội đại biểu cho dân, có pháp luật cho toàn dân sinh sống trong trật từ và làm theo. Nhưng nhục nhã thay cái nước có nền văn minh này lại là mối quốc thù của chúng ta!
Ông trầm ngâm trước chén rượu. Trong bát ông vẫn còn nguyên cái nem chua An Cựu. Ông cử Sắc vẫn tiếp thêm vào. Cụ Đào Tấn ân cần nói:
- Tiên sinh động đũa cho. Chúng ta không phụ lòng bà cử.
Ông Văn chắp tay trước mặt xá lễ. Ông tiếp tục nói ra cái điều băn khoăn từ trên đất Pháp trở về chưa tiện tâm sự với ai:
- Nền kỹ nghệ của họ văn minh hơn ta, phát triển hơn ta gấp trăm ngàn lần đã là một nỗi băn khoăn. Điều làm tôi nhức nhối hơn thế, đó là ở tại cái nước quốc thù của mình lại có sự quý trọng mọi di sản văn hóa, những giá trị tinh thần của nhân loại, tôn thờ, sùng bái các hân tài hơn cả vua chúa. Giữa kinh đô Ba-lê có cả một cung điện nguy nga để thờ các vĩ nhân (Panthéon). Trong hàng vĩ nhân được thờ ở cung điện này tôi thấy có cả các tác giả tuồng (kịch) các văn sĩ, thi nhân, các tư tưởng gia trứ danh. Ở nước ta chỉ có vua mới được xây lăng tẩm. Danh tiếng như thi hào Nguyễn Du cũng chỉ là: “ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm”. Ở trên đất nước người; cái nước có một nền văn hiến văn minh mà lại đang có bộ máy cai trị, bóc lột dân mình, có cả một đội quân lê giày đinh máy chém trên đất nước mình! Bế tắc và chỉ thấy bế tắc “Quốc thù dục báo, vô kế khả thi”. Tôi đành tìm đến con đường nghệ thuật. Sự lựa chọn này cũng là một thoái thác trách nhiệm trước “quốc gia hữu sự”. Nhưng tránh được sự dính tay mình vào máu dân mình. Vì cái chính phủ bảo hộ và nam triều đã đặt tôi vào một trường đào tạo người chỉ huy đội quân cầm dùi cui chứ đâu phải người làm quan với nhân cách như cha tôi, như cụ Thượng đây! Cho nên, tôi học chữ cốt rồi để dạy lại cho người khác, góp chút đỉnh vào công cuộc mở mang dân trí, học hội họa để vẽ phong cảnh đất nước mình, ca tụng cái đẹp của quê hương xứ sở mình. Và họa những tấm chân dung các thân hữu để lại cho con cháu ngày mai nhận diện cha ông….
- Bác tự về Hà Nội hay họ bổ về đó? – Ông cử Sắc hỏi
- Từ ngày chúng ta cùng học trường thầy Nguyễn Thức Tự, tôi đã có lần nói với bác ước mơ được về kinh đô Huế, được ra Thăng Long. Nhân cơ hội từ Pháp vể, tôi tự chọn về Thăng Long – Ông Văn giãi bày thêm ý của mình:
- Giấu chị, cụ và bác, tôi không thích gọi cố đô Thăng Long bằng cái tên mới Hà Nội. Hai tiếng Hà Nội gợi lên trong cả giác tôi một sự gò bó, tức bực và chật chội tù hãm. Trái lại, hai tiếng Thăng Long mở ra trong trí tưởng của mình một tầm bay cao rộng tự do. Dân tộc này cất cánh từ trong sương mù quá khứ của Chim Lạc. Cánh bay của dân tộc này tuy có lúc phải sà xuống thấp, nhưng lại bay vút lên cao, sải dài, bay xa vô tận. ôi nghĩ vạy enen đã trở về đất tổ ngàn năm văn hiến. Ngồi trên chiếc tàu Tây mà tôi bâng khuâng như về trên đôi cánh chim Lạc, chim Hồng
Cụ Đào Tấn, ông cử Sắc, Côn và cả bà cử Sắc, bé Khiêm ở trong buồng dệt đều bồi hồi thả hồn theo dòng tâm tưởng của ông Lê Văn!
- Tôi về đến Thăng Long – ông Văn kể - hôm trước, sáng hôm sau tôi nhập vào những dòng người tấp nập trên các phố xá. Tôi đi cho biết “ba mươi sáu phố phường” của Thăng Long. Nghe dân mình gọi tên phố thì mừng, đọc tên phố trên các cột bảng đầy đường thì đau. Dân ta gọi với nhau là phố Hàng Đào. Ở trên bảng thì – ông kéo dài giọng – r…uy…đờ…l…a…xo…a….(Rue de la soie). Tây viết cho Tây gọi với nhau. Tôi cũng được một số ông quan An Nam thính mùi bơ sữa bằng những cái tên vong quốc ấy. Từ nơi Ba-lê đồ sộ choáng ngợp, về Thăng Long cố đô, tôi cảm như một vườn hoa, một cửa chùa. Đọc sử sách, tên đất, tên người vang động cả tâm hồn về những chiến công oanh liệt chống giặc giữ nước. Nhưng trên đất đai xanh tươi của cố đô chỉ còn lại những dấu tích nho nhỏ như Tháp Rùa, chùa Một Cột, đền Trấn Vũ, nhà bia Tiến sĩ, gác Khuê Văn…Với bấy nhiêu vốn liếng công trình xây dựng của cha ông còn lại cũng đủ nhìn nhận ra một rừng trí tuệ, một bể tâm hồn của một nòi giống bay lên từ cánh Chim – Lạc – Hồng – Ông nói đang sôi nổi bỗng bùi ngùi – Bọn giặc nước nào đến xứ sở này cũng áp dụng phá sách, cướp sạch và diệt sạch người tai mắt. Lại thêm cái nạn: Triều đại sau lên tìm cách xóa sổ bớt triều địa trước. Hoặc dời đô đến nơi khác thì hạ thấp, thu nhỏ những giá trị được tạo dựng trên Đế đô xưa! Một cơn thịnh nộ của một ông vua đã xóa đi hàng chục lâu đài, làm cỏ cả ba họ. Đất nước! Đất nước! với bao biến cố phũ phàng làm sao dám trách tiền nhân không để lại một kỳ quan nào sánh cùng thiên hạ! Thưa cụ, thưa bác cử….
Ông uống cạn chén rượu, bỏ lửng lời thưa gửi. Côn rót tiếp rượu vào chén, ông chắp tay biểu thị sự cám ơn, ông nói với dáng tươi cười:
- Hầu hết các ông quan An Nam, các ông Tây thuộc địa ở Bắc Kỳ và cả hai ông bạn đồng môn trường thuộc địa Ba-lê với tôi cười mũi tôi. Họ coi tôi là một gã khờ du học bảy năm trời ở tận bên “Mẫu quốc” về, lại xin nhận một chân thợ vẽ sách cho nhà in Xít-nê-đe (Imprimerie Schseider) mà anh em thợ thuyền gọi là “xịt-nể-đè”. Nhà máy in ở tận Hồ Tây. Tôi lại ở trọ tận phố Hàng Bông. Ngoài giờ làm việc cho nhà in, tôi đi đến các thắng cảnh, các di tích lịch sử lấy mẫu vẽ tranh sơn dầu. Cạnh nhà tôi ở có đình Kim Hội, thờ Hưng Đạo Vương. Tôi đã dựng một tranh lớn về cảnh đình này. Trong đình có đôi câu đối gây cho tôi những xao xuyến, bồi hồi:
“Tây Kết phán linh uy, vạn cổ anh thanh kinh Bắc địa”
“Đông A lưu thánh tích, thiên thu linh ứng chấn Nam Thiên”
Cụ Đào Tấn đổi thế ngồi, giọng nói phân trần:
- Tiên sinh lượng thứ cho!
- Kính lại cụ - ông Văn đáp lại.
- Thiệt tình, tôi rất bận tâm việc đã mời tiên sinh vô đây để cùng cộng sự với nhau lâu dài. Ngờ đâu tôi lại phải ra Tổng Đốc An Tịnh lần thứ hai này! Dở dang cho tiên sinh lắm. Nếu tiên sinh vui lòng trở về Nghệ An cùng tôi thì tuyệt hảo.
- Thưa cụ - ông Văn nói – Ngày nào cụ còn tại triều, tôi còn là người cộng sự chí tình của cụ. Ngày cụ ra chăm sóc dân chúng An Tịnh, tôi lại về ngoài đó. Có thể tôi mở trường dạy học chữ mới học các con em ở quê nhà. Tôi còn suy nghĩ kỹ thêm. Việc trước mắt tôi sẽ vẽ gấp cho xong các mẫu vũ khí mà Đức vua (Thành Thái) đã chỉ xuống. Việc dựng chân dung Đức vua và chân dung cụ lớn, lấy mẫu chỉ vài ba ngày nữa là bắt tay vào thể hiện.
Cụ Đào Tấn nói hào hứng:
- Đức vua sau ba kỳ ngự Lương tạ. Ngài ngự rất bình tâm về tiên sinh. Đức vua rất khen tranh của tiên sinh. Đức vua đã ngự lãm khá lâu trước bức tranh Buổi sáng Hồ Tây, Một cuộc bình văn, Buổi học chữ nho…. Lúc ở Viện dưỡng tâm bước ra, Đức vua có nói: Trẫm quen thưởng ngoạn tranh ta, tranh Tàu. Lần đầu tiên sơ kiến loại tranh này tuy chưa quen mà trẫm rất thiện cảm. Tài hoa của họa sĩ làm cho người xem tranh nhận ra cái đẹp vừa lạ vừa quen. Cách vẽ là Tây mà thần của tranh là ta. Nghệ thuật của tranh đã làm rung động tâm can trẫm. Nghệ thuật không có biên giới. Đức vua ít khi bộc lộ ra sở thích mà ban ngôn như vậy là hãn hữu. Tiên sinh cần Đức vua ngự Lương tạ để lấy mẫu bao nhiêu buổi vẫn được ạ.
- Kính thưa cụ, Đức vua tin giao tôi vẽ các mẫu súng và đức vua ưa thích tranh nghệ thuật của tôi. Có được cái điều ấy chính nhờ ở đức tâm của cụ. Ông vua sáng đức nhờ tâm đăng của hạ thần ạ. Với lẽ ấy, tôi sẽ cống hiến cả thể lực ủa tôi, tài nghệ của tôi vào chân dung đức vua và cụ lớn. Kẻ nịnh bợ bằng đường cong của lưng lưỡi đã bẩn thỉu, còn nhơ bẩn hơn là kẻ xun xoe bằng đường bút.
Ông cử Sắc đón ngay câu nói tâm đắc của bạn:
- Bác đã thưởng thức tấn tuồng “Tiết Cương tế thiết khấu phần” của cụ Thượng chưa?
- Thưa bác, đã được nghe danh, nhưng chưa được thưởng ngoạn ạ.
- Đường cụ Thượng của chúng ta ngay thẳng vậy đó. Nếu cụ Thượng cong trong quan lộ thì làm sao có được đường bút thẳng nhọn đến thế!
Đào Tấn nhìn lên những sợi khói trầm yếu ớt, ắp tàn. Đêm đã khuya. Cụ hướng buổi dạ đàm sang chuyện cuộc sống của gia đình ông cử Sắc:
- Gia đình bác cử hiện có khó khăn về đường sinh kế để tiến thủ…Trước ngày tôi ra Nghệ An, tôi xin được dự phần nhỏ bé với bác cử?
- Kính tạ cụ Thượng. Sự chí tình đại nghĩa của cụ, chúng tôi không biết lấy gì báo đáp.
- Bằng hữu, xả sinh thủ nghĩa
- Kính thưa cụ và bác. Cụ đã quan tâm, đã chí thiết đến gia cảnh của tôi lúc này. Tôi chẳng có lý do gì mà không bộc bạch lòng mình với cụ và bác Văn – Ông nhìn ra phía Côn ngồi sau ánh đèn, mờ mờ. Tiếng dệt vải của bà cử Sắc vọng ra đều đều vào tâm trí ông. Cụ Đào Tấn, ông Lê Văn như rơi vào sâu lắng. Ông cử Sắc gieo từng tiếng trầm trầm:
- Trước hiện tình đất nước thế này, cụ Thượng đã lựa chọn một con đường thích hợp cho mình; bác Văn đã lựa chọn một con đường thích hợp cho mình; tôi đã lựa chọn một con đường thích hợp cho mình…..Mỗi chúng ta có một vẻ riêng, nhưng lại “Đạo nhất nhi dĩ” đạo làm người là chỗ ta gặp nhau, hội tụ lại với nhau mà không nề tuổi tác, học vấn, danh vị khác nhau. Cái đích của con đường tôi lựa chọn – ông nhấn từng lời:
Thư đăng túc liệu chí
Ngã vô mộng công hầu
Giáo tử, tôn sự quốc.
Hồ hải hoằng y dân
- “Giáo tử, tôn sự quốc… Hồ hải hoằng y dân…. ” – Đào Tấn như nhấc mình lên nhìn Côn nhắc lại những câu thơ một cách thấm thía. Ông Văn cũng nhìn Côn như vừa vẽ xong một chân dung còn ngắm lại lần nữa….Đào Tấn vẫn cái giọng thấm thía, xúc động:
- Cái chí học vì mục đích cao cả ấy của thầy cử tôi kính phục từ lâu. Tôi muốn góp mộ phần hết sức tiểu mọn để thầy cử yên bề đèn sách đợi khoa Tân Sửu (1901) ứng thí tiếp.
- Kính ơn cụ! – Ông Sắc xúc động
- Nhiều người trong bộ biết tiếng bác cử. Họ có ngỏ lời nhờ tôi được gửi con đến học trường của thầy. Nhưng xét thấy nhà học của thầy quá hẹp, không thể nhận thêm học trò được. Tôi đã bàn với một người cộng sự tin cậy của toi lo việc mở trường, rước thầy cử về dạy, ông ta mừng lắm. Con cháu của ông ra đang có một số tha thiết mời thầy giỏi về kèm để kịp khoa thi Hương Canh Tý sắp đến. Còn nữa đã học “chữ hàng bốn” trở lên hết cả rồi.
- Thưa cụ, nơi ông ta ở có gần đây không ạ?
- Ở làng Dương Nỗ, bên Phú Vang, lối đi xuống cửa Thuận. Độ đường khoảng một dặm rưỡi (6km) chi đó.
Ông cử Sắc trầm ngâm. Cậu Côn nhìn cha không chớp mắt. Bà cử Sắc và cậu cả Khiêm từ trong buồng dệt vải cũng nhìn ra, chờ đợi…
- Dạ, kính ơn cụ. Tôi về ngồi dạy dưới đó được. Một số học trò cũ ở đây tôi đem theo xuống. Tôi xa chúng thì nhớ và tiếc lắm. Tôi sẽ bàn với nhà tôi thêm nữa. Nội nhật mai này tôi sang tư thất để hầu cụ.
- Cảm tạ. Tôi có thể để cho người cộng sự của tôi cùng tiếp thầy được chứ?
- Dạ, rất hân hạnh ạ,
- Vậy thì ta hẹn gặp nhau vào giờ “Thân” nhá?
- Bẩm cụ, giờ ấy được lắm ạ.
Cụ Đào Tấn ngỏ lời mời luôn ông Văn:
- Mời tiên sinh cùng dự với chúng tôi cho thêm vui nhá.
- Cụ đã hạ cố, tôi xin lĩnh ý ạ.
Đào Tấn lại nhìn về phái đỉnh trầm, cụ vui vẻ nói:
- Chúng ta ngồi với nhau bao giờ cũng tàn hương, cạn rượu. Nhưng tâm sự của chúng ta không bao giờ vơi. Đêm nay ta dừng lại đây. Sáng mai, Đức vua ngự hạnh (đi chơi)tôi vào vào chầu sớm.
Ông Văn nói với cụ Đào Tấ:
- Thưa cụ mai Đức vua ngự hạnh, liệu tôi có ra Lương tạ tiếp tục công việc lấy mẫu Đức vua không?
- Vẫn như thường nhật. Theo sự trù tính của tiên sinh, tôi đã tâu lên Vua một biểu thời khắc mười ngày: mỗi ngày Đức vua sẽ ra Lương tạ ngự lãm khoảng từ một đến hai khắc (15 đến 30 phút) để tiên sinh họa.
Hai vị khách xoay người từ từ dò chân xuống nền nhà, Côn vọi vàng cầm đèn soi tìm giày đặt trước bàn chân cho cụ Tấn, ông Văn – Cháu ngoan lắm – Cháu ý tứ…Cám ơn cháu.
Cụ Đào Tấn, ông Văn cùng tấm tắc khen Côn. Ông cử Sắc đi sau hai người bạn. Bà cử Sắc từ buồng trong cũng cầm một cái đèn mai sam có chắn gió đi vội ra cửa soi sáng ra ngoài tận ngõ. Ánh sáng đèn trên các hàng đăng đài ngoài con đường lớn giao huy vào ánh đèn ở trên tay cậu bé Khiêm. Cụ Đào Tấn dừng bước trước cậy bé Khiêm, nhìn trìu mến, cụ Tấn nói:
- Hai anh em cháu là hai viên ngọc của cha mẹ cháu.
Ông Văn nói tiếp luôn:
- Chú rất vui được gặp lại cha mẹ các cháu, thấy hai anh em cháu là niềm hy vọng lớn của tương lai
- Cháu kính tạ cụ Thượng, cháu đa tạ chú, chúng cháu còn nhỏ dại lắm ạ - Khiêm đáp lễ
Bà cử Sắc tay bưng cơi trầu từ trong nhà dưới ra tiễn khách. Bà đứng cạnh chồng ở giữa sân, đon đã mời.
- Bẩm cụ và bác xơi miếng trầu. Rất vinh hạnh cho gia đình tôi được cụ và bác đã hạ cố đến. Nếu chúng tôi và các cháu có điều chi khiếm khuyết, xin cụ lớn và bác lượng thứ cho.
- Đa tạ bà. Từ lâu tôi đã coi tổ ấm của ông bà là một trong những nơi tôi tiêu sầu dưỡng khí. Bà là bậc hiền thục tôi luôn luôn kính trọng. Mỗi lần đến đây tôi mang về một minh cảm, một thanh thản mới mẻ. Hai cậu Côn, Khiêm của ông bà đã để lại nhiều ấn tượng trong tâm trí tôi.
- Kính cụ và bác. Những lời cụ dạy quý hơn vàng.
Côn cầm đèn đi vượt lên phía trước soi đường và để tránh sự có mặt trong lúc khách đang khen mình với cha mẹ. Khách chủ vừa đi chầm chậm vừa trò chuyện. Ông Văn xúc động mạnh vì lần đầu gặp gia đình bạn có một nếp sống thanh cao và trí tuệ, ông nói nhỏ nhẹ:
- Chị cả ơi. Tôi nói thêm lời nào nữa cũng là thừa. Tôi mừng, rất mừng là được thấy anh chị đã tích trữ được một kho văn đạo trong gia đình mình.
- Cảm tạ bác, bác đã đánh đường tìm đến với nhà tôi quý hóa quá. Xin bác năng lui tới gia đình chúng tôi. Xung quanh đây ít có người cùng quê mình bác ạ.
Anh Sắc nói với vợ:
- Tôi đã ngỏ bày với bác khi nào thấy thuận tiện bác giúp cho các con được học chữ mới.
- Rứa thì – bà cử Sắc cảm động – rứa thì phúc đức cho các cháu, thưa bác!
Ông Văn đáp lại ông bà cử Sắc bằng một cử chỉ rất niềm nở. Cụ Đào Tấn dừng lại, nói:
- Kính ông bà lại nhà cho. Chúng tôi về được rồi. Để các cháu còn đẫy giấc, mai các cháu còn phải học ạ.
- Xin cụ và bác bình tâm – ông cử Sắc nói.
Bà cử Sắc cầm lấy cây đèn ở tay Côn, bà cho hai con chào khách lần cuối rồi trở vào dọn dẹp nhà cửa trước khi ngủ. Bà cùng chồng tiễn hai vị khách quý ra tận ngõ ngoài. Gió se se lạnh. Bốn con người trĩu long tâm sự đứng trước hàng cây lấp lánh sao khuya và màu đèn vàng nhạt. Những người ra về, những người ở lại bịn rịn mà trân trọng.
Cụ Đào Tấn trao tay ông cử Sắc một cuốn giấy nhỏ. Cụ nói giọng bồi hồi:
- Tôi đã đọc bác cử nghe câu đối tưởng niệm cụ Đình (Phan Đình Phùng). Mới rồi tôi đã viết xong vở tuồng: Tinh trung báo quốc. Tôi kính phục, thương tiếc cụ Đình vô hạn, nên lấy tích Ngạc Vương viết ra vở tuồng này. Ngẫm thấy, cụ Đình của chúng ta là một tấm gương nghĩa khí vì cứu nước quên nhà, có thể so sánh với bậc trung thần nghĩa khí Nhạc Vũ Mục (Ngạc Vương). Trong vở tuồng tôi có gửi gắm một bài thơ hoài niệm Phan Đình Nguyên. Hôm nay tôi chép lại bài thơ ấy, nhờ thầy cử đọc và cho một lời bình phẩm.
- Thưa cụ, tôi rất sung sướng và vinh hạnh được cụ trao cho điều tin cẩn này.
- Tôi cũng mong được bà cho một lời bình phẩm – Bà cử Sắc hơi lúng túng, khép lại tà áo dài bị gió khẽ bật lên. Bà khiêm nhường nói:
- Kính cụ lớn, phận đàn bà, lại không được đèn sách thấu đạo ạ.
Cụ Đào Tấn tươi cười, nhìn ông Văn nói:
- Bà cử khiêm tốn mà nói vậy, bà thông sách lắm!
Cụ Đào Tấn trao luôn lên tay ông Văn một cuộn giấy như của ông Sắc. Cụ nói:
- Tiên sinh cũng dành cho tôi một tiếng tri âm, thưa tiên sinh.
- Kính tạ cụ lớn, tôi xin lĩnh ý.
Bốn người cùng bái biệt nhau trong đêm thanh thành Nội. Ông bà Nguyễn Sinh Sắc đi trong tiếng gió than thở với bầu không khí thoang thoảng hoa dạ hương và mùi trầm hương từ trong nhà tỏa ra.
PHẦN 14.2
Nhà im ắng. Ông cử Sắc đi nhón chân, giữ giấc ngủ ngon cho hai con. Bà Sắc nhẹ tay đóng các cửa dưới bếp, trên nhà. Ông cử Sắc xếp gấp những chồng sách gọn vào góc án thư. Ông quay lại thả màn, nói với vợ một giọng thân thương:
- Hai con đã ngủ cả ở giường trong. Đừng thức chúng nữa. Bữa nay em ngủ ở giường anh vậy.
Bà cử Sắc hơi nóng má, cười ngượng ngập:
- Ồ! Thiên địa xoay vần, lạc lối hay sao mà nhà gọi “em” xưng “anh” hề?
Ông cử Sắc hơi bối rối:
- Ấy! Lúc ni chẳng có ai, các con đã ngủ thì việc chi phải giữ ý tứ, giữ lễ trong cách gọi nhau.
- Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già. Đã đến cái tuổi ba mươi ngoài, gọi em nghe nó…ra răng ấy!
- Em cứ ưa gọi là “bà cử” hả?
- Nỏ phải…gọi nhau bằng anh, bằng em vừa trẻ trung, vừa thương thương trìu mến. Nhưng, mọi người gọi chúng mình bằng ông, bằng bà kia mà. Cũng như đã quen nói cái tiếng, cái giọng quê mình nghe gần gũi ấm áp, nhưng những người khác quê họ nghe không rõ, khó hiểu thì mình phải nói pha tiếng cho thuận, phải không anh?
- Đó! Em gọi tiếng “anh” nghe vừa mỹ cảm, vừa chân tâm, vừa mới mẻ.
Bà cử Sắc cười khúc khích,vào giường dém lại màn cho hai con ngủ. Trong lúc chồng lục lọi tìm câu đối mà cụ Đào Tấn chép cho trước đây, bà cử Sắc thì rón rén vào giường thả màn êm nhẹ. Ông cử Sắc cứ tưởng vợ đang ở bên giường các con, ông nói chuyện với sang bên đó. Bà cử không nén được, bật cười khúc khích ngay phía sau lưng chồng, ông cử bất thần, nói đùa vợ:
- Em cầm tinh con rồng mà đi lại êm như con mèo.
- Là rồng nên em bay từ bên giường các con bay sang giường anh thì anh mới không biết chứ?
- Em ngủ trước đi, tất tưởi từ sáng tận khuya, chẳng nghỉ được lúc nào cả.
- Anh giục em ngủ trước anh à! Anh thấy có lần nào em ngủ trước anh và các con không anh?
- Thì bữa nay em ngủ trước anh một lần đi. Tiện thể anh xem bài thơ của cụ Thượng.
Bà cử Sắc ra khỏi giường chế nước sôi trên lò than vào ấm trà. Bà bưng hai chén trà thơm phức, nóng hổi đặt lên án thư cho chồng, giọng âu yếm pha chút nũng nịu:
- Chẳng lẽ em lại không bằng cô gái mà mẹ dạy cho bé Thanh ru em – bà đọc giọng êm trong:
Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt vải, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm
Trình anh giấy học còn nằm nỗi chi!
Một mai vua mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh
Bỏ công cha mẹ sắm sanh
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành
- Em còn hơn cô gái trong bài ca ấy – Ông Sắc nói
- Ý, em nỏ dám xúy phần hơn đâu
- Em hơn nhiều điều lắm chứ. Này nhá, em lo tiền lưng, gạo bị, lo bút nghiên, lo may mặc vừa cho chồng vừa cho con. Em gánh vác mọi việc trong nhà, vừa lo ăn ở với bà con láng giềng trong được ấm ngoài được êm. Tối nào em cũng thức dệt cho tới khi chồng con đi ngủ rồi mới ngả lưng. Có hôm bé Khiêm chưa xong bài chưa dám đi ngủ, em lại thức ngồi khâu vá bên cạnh con, khích lệ nó học….
Bà cử Sắc nhắc về hình ảnh người con gái đảm đang trong ca dao để đùa vui chồng. Khi nghe chồng nhắc đến từng việc bà phải gánh vác với một niềm thương cảm, lo âu thì bà lại băn khoăn.
- Em đùa anh cho đỡ căng thẳng đầu óc vì cả ngày anh mải miết với sách, với học trò, tối đàm đạo với bạn.
- Anh hiểu lòng em – ông cử thắp nén hương. Ông hơi chùng giọng – Để anh đọc cho em nghe bài thơ luật của cụ Thượng Đào tưởng niệm cụ Đình nhá.
Bà cử khơi to ngọn đèn. Giọng ông cử ấm, trầm:
Phó trúc chân năng phục cựu Kinh
Thập niên công tích thống thùy hành
Đăng bi kim tộ kiến hòa nghị
Nhẫn sự hương bôn tụ khối thanh
Thủ vẫn sơn hà tâm vị tử
Thân kỳ Cơ Vĩ khí do sinh
Kinh qua dương nhật ban sử địa
Thiên cổ linh nhân thể lệ hoành
Ông bà cử Sắc ngồi lặng lẽ những ngọn khói hương tỏa lan trước ngọn đèn heo hắt. Lòng hai ông bà vang âm tiếng sung trên quê hương Nghệ Tĩnh của nghĩa quân Phan Đình Phùng lay động sông núi! Bà cử chợt léo lên trong ký ức hình ảnh hồi còn là Hoàng Thị Loan đi gánh quân lương tiếp tế cho Chung nghĩa quân của cụ Tú Vương, cho quân cụ Đình (Phan Đình Phùng)….Rồi khiêng những thi hài, những chiến binh bị thương trên các chõng tre, võng đay, võng lác đưa về các làng. Dân làng xúm lại với nhau đào huyệt chôn cất những người con bỏ mạng mình vì đất nước, vì dân. Không ai bảo ai, nhà nhà tự đem gạo, đem rau, đem gà vịt góp nuôi các chiến thương; các người già đi hái lá, đào rễ cây thuốc đem về chữa thương cho các chiến thương. Quan Tây, quan Nam triều Đồng Khánh xua lính về các làng có người tham gia nghĩa quân, tiếp tế, nuôi dưỡng nghĩa quân, chúng bắn giết, đốt phá. Mấy lần Tây, quan đưa lính về làng Chùa, làng Sen vây ráp lùng bắt Chung nghĩa binh và cụ Tú Vương. Ngày ấy o Hoàng Thị Loan đã có con gái đầu lòng với tên gọi chị nho Sắc….
Ông cử cũng đang theo đuổi những hồi tưởng lộn xộn….Bỗng gặp phải ánh mắt vợ, ông bối rối hỏi:
- Em đang nghĩ chi mà lặng người ra vậy?
Bà cử cũng bồi hồi nói tránh:
- Cụ Thượng thư Đào Tấn viết nhiều pho tuồng lịch sử, mô tả những bậc anh hùng nghĩa khí, trung hiếu vẹn toàn, nên chi thơ cụ cũng đượm chất bi ca hung tráng. Em trộm nghĩ vậy, đúng không anh?
Ông cử đặt nhè nhẹ bàn tay vợ, giọng bồi hồi:
- Anh đã có lỗi với em. Gánh gia đình đè lên vai em quá nặng. Anh chẳng đỡ đần cho em được mấy. Vì vậy, em chẳng còn chút thời giờ để mở thêm những trang sách. Giá thử em được đèn sách thêm, được dùi mài kinh sử thì….
Bà cử nói trêu chồng: - thì dốt đặc cán mai hở anh – hai ông bà cùng cười. Ông nói giọng tha thiết – anh nói thiệt tình, em nhận và cảm thơ khá tinh tường. Em đã nhận ra chất bi tráng hung ca trong thơ cụ Thượng Tấn là sự tinh tường về thơ. Thơ cụ Thượng đúng là “Thi trung hữu khí” (ở trong thơ có khí phách).
Ông cử như chợt nhớ đến một kỷ niệm, một ký ức nhức nhối, một tâm sự nén sâu…ông hơi sững sờ, nói với vợ giọng nho nhỏ như một làn hơi mỏng:
- Anh đọc em nghe một câu đố…Đây là tiếng kêu than, tiếng khóc hận không chỉ là cụ Đình mà cho cả thời đại chúng ta:
“Thành bại anh hung mạc luận, thử cô trung, thử đại nghĩa, thê dữ chư quân tử thủy chung. Châu chi anh, mặc chi linh, độc thư mỗi niệm cương thường trọng. Khả hận giả, thùy diên đại hạ, nhất mọc nan chi! Cung lãnh yêu tiêu, thùy nhân bất tác thâm sơn oán. Hướng dương nhật long phi vân ám, cộng. Ta nhân sự vô thương, khả lân La Việt giang sơn bách niên văn hiến phiên cung mã.
Cổ Kim thiên địa vô cùng, nhi lưu thủy, nhi cao phong, đồng thử đại trượng phu vũ trụ. Lam chi phong, Hồng chi tuyết, xung hàn vô nại bách tùng điêu. Vị hà tai: hội quyết dồi ba, trung lưu để trụ! Tinh di vật hoán, hà nhân bất khởi ố viên tình! Cập thử thời nhạn tán phong quy, khan thán thiện tâm mạc trợ. Độc thử Tùng Mai khí tiết, nhất tử tinh thần quán đẩu ngưu”
Bà cử không nén được xúc động, bật ra tiếng thở dài mạnh, tắt phụt ngọn đèn! Bà hơi bối rối - Ấy chết – khỏi thắp nữa em ạ. Ông nói đỡ cho bà. Một tiếng gà. Nhiều tiếng gà cất lên. Gần sáng rồi. Ông nói – ta đi nghĩ thôi em! Bà vẫn còn thao thức, tiếng bà thì thầm trong bóng đêm:
- Cũng là hạn đại thần, cũng người cùng miền Nam xứ Trung Kỳ mà khác nhau như đêm với ngày.
- Em nói với ý chi đó?
- Rõ quá rồi đó anh. Nguyễn Thân thì sai lính đào mồ cụ Đình, đốt di cốt cụ thành tro trộn với thuốc súng nạp vào sung thần công bắn xuống dòng sông La. Còn cụ Đào Tấn ngồi ghế Tổng đốc tại quê hương cụ Đình thì ngầm giúp đỡ cụ Đình; khi cụ đã thác thì cụ Đào Tấn khóc, làm thơ, viết tuồng ca ngợi cụ Đình.
Ông bà cử chìm trong yên lặng! Ông nói nhỏ mà âm vang như tiếng đóng đanh vào cột
- Thiện và ác, chính và tà, trung và nịnh, quân tử và tiểu nhân…đời xưa, đời nay, đời sau và chắc là chẳng lúc nào lại không có cả hai hạng người ấy, em ạ - Ông nhắc lại vợ - Ngủ đi em!
Bà cử còn bâng khuâng:
- Đêm vắng càng dễ nhận ra mùi thanh khiểu của hương trầm anh ạ.
- Nhưng hương trầm vẫn không át được hương sen đâu em ạ. Chúng mình uống chén trà sen từ nãy mà vẫn được hương vị thì không có mùi thơm nào lẫn với hương sen từ các hào, các hồ quanh Đại Nội đưa xa….
- Nói đến sen em lại nhớ - Bà cử giọng mơ màng – Ba mặt con em đều sinh vào mùa sen nở, chỉ khác ngày, khác tháng thôi.
Ông cử sắc cười thoáng. Tiếng gà gáy dậy ran khắp kinh thành và dàn trải trong mênh mông đêm!
PHẦN 15
Con mèo từ trong bếp ra, nhìn ngơ ngác rồi men theo thềm nhà bước uể oải. Thỉnh thoảng nó dừng bước, đuôi ngoe ngẩy vẻ mệt mỏi. Chốc chốc nó rung mình, cả bộ lông mượt mà chuyển động. Hai con mắt xanh ngơ ngác nhìn vào xa xăm và nó kêu mấy tiếng meo meo bâng quơ để rồi quay vào nhà học, nơi nó thường được cậu chủ Nguyên Sinh Côn vuốt vê, âu yếm.
Con mèo đứng nhìn bà cử Sắc, kêu meo….meo. Bà nhã miếng bã trầu vào ống nhổ, bà gọi meo meo, vỗ vỗ bàn tay vào mặt ghế. Con mào nâng nhẹ mình nhảy thót vào lòng bà, chúi chúi đầu vào cánh tay, vào người bà cử rồi nằm xuống khoanh tròn mình lại. Bà cử Sắc nói với khách, bà mẹ bé Xển Văn:
- Con vật cũng biết ai chiều, thương nó thì nó nhớ, nó mong mỏi, sầu muộn. Từ hôm cháu Côn sang Dương Nổ, con mèo ni ở nhà buồn thiu. Nó bỏ cơm đã mấy hôm nay rồi. Tôi trộn cơm với cá ngon hơn mọi ngày mà nó chỉ nếm vài hột rồi ra nằm chỗ cháu Côn thường ngồi học.
Bà Xển Văn nhẹ tay vuốt đầu con mèo đã thiu thiu ngủ. Bà nói tiếng hơi nặng:
- Giấu chi bà. Nhân đức như cậu Côn thì đến cây cột nhà cũng nhớ cậu, nói chi con mèo. Tôi có nói ngoa mô: Chính mắt tui thấy ông ngoại tui trồng một cây bưởi đào, một cây mai vàng. Ngoại tui chăm sóc hai cây ni như chăm con. Vun gốc cho nó thường xuyên. Bấm những lá sâu cuốn, bắt sâu, bắt bọ rầy cho nó. Về mùa hè, ngoại tui để chõng tre nằm dưới gốc bưởi, nhiều đêm ngủ luôn ở đó. Ngoại tui trồng bưởi, trồng mai để lấy quả và hoa thờ ba ngày Tết. Tui được thấy hai cây ni từ thưở tập theo mẹ sang nhà ông bà ngoại. Đến ngày tui về nhà chồng, có một mặt con thì ông ngoại tui quy tiên. Cây bưởi đào, cây mai héo dần, các cậu tui ra sức chăm sóc cho cây như lúc ông ngoại còn sống. Rứa mà hai cây vẫn đi theo ông tui trong tuần trăm ngày.
- Mắt tôi chưa được thấy như bác, nhưng có được nghe các cụ nói có những cây trong vườn, những con vật nuôi trong nhà khi người chủ qua đời chúng nhớ chủ mà chết theo, bác ạ
Bà Xển Văn buồn rầu nói:
- Từ hôm thầy đi dạy xa, Côn và các cậu nho cũng đi theo thầy cả, bé Văn nhà tui cứ như đứa mất hồn: cả ngày cháu nó chỉ khư khư cầm cuốn sách, cái bút, cái nghiên, đến bữa cũng chẳng buồn ăn cơm, mắt luôn luôn để ngoài cửa ngóng đợi cậu Côn đến. Đêm mô hắn cũng vài lần gọi cậu Côn trong lúc mơ ngủ.
- Vài hôm nữa cháu Côn sẽ về bác ạ.
- Rứa!...Thưa bà! Cậu về tui sẽ đưa xe cho bé Xển Văn lên chơi với cậu một lúc.
- Cháu nó sẽ ở nhà với tôi, mỗi tháng xuống dưới Dương Nỗ năm ngày mười bữa chi đó. Vì một mình tôi ở nhà đêm hôm vắng vẻ cũng buồn bác ạ.
- Phải. Tui cũng thầm nghĩ rứa và ông nhà tui cũng nói bà cử ở nhà một mình lúc đêm hôm gió máy se mình se mẫy biết kêu ai!
- Bác ăn trầu đi chứ.
Bà Xển Văn cầm miếng trầu, bà hớn hở hẳn ra:
- Cậu Côn ở nhà, bé Văn nhà tui sẽ sướng hung. Hắn lại được học thêm với cậu.
- Dạ ông bà bình tâm cho. Ông cử nhà tôi đã trù liệu cả rồi. Cháu Côn ở nhà học và kèm cặp thêm cháu Văn. Những ngày cháu ở Dương Nỗ, cháu sẽ nghe cha cháu giảng sách. Cháu nó ham chơi nhưng chẳng bao giờ xao lãng việc học, việc nhà. Mỗi tháng ông cử nhà tôi về trên ni một, hai kỳ. Những dịp ấy, ông bà đưa cháu Văn đến nghe giảng sách nhận quyển về học.
- Quả là phúc đức cho vợ chồng tui. Đội ơn ông bà thầy cử và cậu Côn. Cứu một người phúc đẳng hà sa, cháu Văn nó tàn tật, nó được ông bà thầy cử và cậu Côn cứu vớt.
- Hai bác đừng bận tâm, đừng coi việc ông cử nhà tôi dạy cháu Văn học, cháu Côn kết bạn với cháu Văn là việc làm ơn phúc chi. Ông cử nhà tôi đã nói rõ cái thịnh tình với ông bà ngay từ cái hôm đến xin cho cháu Văn học. Bữa đó tôi cũng xin ông bà đừng bao giờ tính đến ơn huệ, nó mất sự tự nhiên đi.
- Ồ! Kỳ thiệt. Mèo mà dửng dưng với cá tươi nướng? Nết na như con nhà lành!
- Cháu Côn luyện nó rất công phu mới được như vậy đó bác ạ.
- Cậu Côn lắm tài thiệt. Cậu luyện dược cả giống mèo ca để trước miệng mà không kêu, không sấn vô cắp chạy.
- Con mèo ni nhà tôi mới xin về nuôi, sơ hở một tí là nó chộp thức ăn lẹ như chớp. Ăn vụng chẳng kém những con mèo khác. Nhưng cháu Côn mê bộ lông nó đẹp, mặt nó dễ thương. Cháu ngồi học luôn luôn để con mèo bên cháu. Cháu ăn kẹo cũng nhã cho nó một miếng. Lúc đầu con mèo không biết ăn của ngọt. Dần dà nó đâm quen hơi bén tiếng cháu Côn. Trong bữa ăn, con mèo ngồi cạnh cháu Côn, hễ kêu vòi liền bị gõ nhẹ roi vào đầu. Cháu Côn để bát thức ăn ngay trước mặt mèo. Chưa chỉ tay cho phép dược ăn con mèo vẫn ngồi im lặng. hể kêu hay nghển cổ ra liền bị gõ đầu. Đâu chừng một thời gian kèm cặp, con mèo ngoan ngoãn nết na hẳn hoi. Bây giờ thì để cả mâm cơm dưới bếp không đậy, con mèo ngồi canh đuổi chuột cho bác ạ.
Bà Xển Văn chép miệng tấm tắc:
- Tục ngữ nỏ sai: “Người hiền nuôi sói hóa nai, người ác nuôi thỏ lại lai lợn lòi”!
Bà cử Sắc cười, tránh sự khen nhà mình, bà nói lãng:
- Bác nhớ được câu tục ngữ ý nghĩa lắm. Nôm na mà thâm thúy bác ạ.
Bà Xển Văn luống cuống:
- Thôi chết! Bà cử tha lỗi.
- Tạ lại bác. Chuyện chi rứa? – Bà cử hỏi gạn
- Đáng trách cho tui lắm – Bà Xển Văn nói – Tính tui gần đây nói trước quên sau. Đời thuở mô đã mở cái rá ra từ nãy mà cứ nói chuyện về con mèo quên cả việc thưa với bà.
- Ấy! Tôi tưởng bác đi chợ tiện đường ghé vô thăm nhau chứ cá mú cái chi bác?
- Nói giấu chi bác cử! Con gái đầu lòng của tui đã cho người ta ăn hỏi gần một năm rồi. Ông thông gia với tui ở kẻ bể. Nhà có thuyền lưới khơi, lưới lộng. Dưới đó đưa cá lên biếu. Chẳng giấu chi bác cử, tấm lòng thành của vợ chồng tui, xin bác vui lòng nhận chút lộc nhỏ mọn ni.
- Hai bác! – Bà cử sắc băn khoăn – Thiệt khó xử quá. Hai bác cho mà không nhận thành ra khách khí, nhận thì như ngừơi hám lợi.
- Xin bà thấu cho cái bụng của vợ chồng tui.
- Bác ơi. Chúng tôi không hiểu hai bác thì còn ai hiểu nữa. Chúng ta có thể san sẽ cho nhau con cá lá rau, nhưng đừng để thành sự biếu xén, bác ạ - Không có rứa mô, thưa bà. Số cá ngon ni của bên nhà thông gia thì cũng như là của tui. Biết thầy cử và hai cậu ưa món cá thu, cá chim rim khô bằng nước chè tươi đặc, rắc hạt tiêu.
- Ông nhà tui và cháu cả ở dưới Dương Nỗ, cháu Côn khi ở đây, khi thì ở dưới đó với cha. Bà đem về kho cho các cháu ăn dần. Ông bà cũng nỏ có dồi dào chi, nhà lại đông miệng ăn nữa.
- Bà rim khô rồi gửi một phần xuống Dương Nỗ cho thầy và hai cậu ăn thêm – làm vậy không tiện bác ạ. Nhà chủ tưởng lầm cha con thầy học ăn không đủ mặn miệng nên nhắn người nhà tiếp tế. Thôi thì tôi nhận một ít để khỏi phụ tấm lòng của hai bác.
Bà Xển Văn như nở từng khúc ruột, bà thở dài nhẹ nhõm. Bà cử Sắc lấy mấy miếng cá còn thì ép bà Xển Văn phải bưng về. Bà Xển Văn cũng không muốn bưng về một tí nào cả, hai bà cứ nài qua nể lại lẫn nhau.
***
Côn từ Dương Nỗ về thành Nội. Con đường liên hương rợp bóng cây gợi mở những miền xa bát ngát xanh rờn. Hôm đi với cha và anh Khiêm, Côn chăm chú “làm dấu” bằng mắt các đặc điểm trên dọc đường để lúc trở về thành Nội một mình không bị lạc. Côn vẫn còn tức cười, cười một mình trên con đường trở về nhà nhớ lại hôm đi xuống Dương Nỗ: Một tốp sáu anh trai tráng vác ba cái láng đi với một cụ già, tóc chưa bạc nhưng râu dài xuống ngực. Ông quan thuộc viên dưới trướng quan Thượng thư bộ Hình Đào Tấn, dẫn họ đến nhà. Anh Khiêm đã nheo mắt lia lịa báo cho Côn biết “Họ đến đón cha và anh em mình đi Dương Nỗ đó”. Cha mẹ tiếp đón họ một tuần trầu trước. Cụ già có bộ râu đen dài đứng dậy chắp tay trịnh trọng nói: “Bẩm thầy cử, chúng tôi được sự ủy thác của của các vị phụ huynh lên rước thầy về tọa giáo và hai cậu ấm về quê chúng tôi cùng học ạ!” Cha nói khoan thai, vui vẻ với họ và đứng dậy đội khăn, lấy ô để ra đi. Cha mẹ điều biết có cáng nhưng chảng đả động một lời. Mẹ đưa tay nải cho cha, cho hai anh em. Ông quan bộ Hình, người nhờ cụ Đào Tấn mời cha mình về Dương Nỗ dạy học, liền đỡ lấy cái tay nải nơi mẹ mình, xin được để tất cả lên cáng. Sáu chàng trai trẻ đã đặt đòn cáng lên vai. Ông quan bộ Hình chìa tay ra mời cha và anh em mình lên cáng. Cụ râu đen dài cung kính chắp tay mời nữa. Anh Khiêm cũng tưởng sẽ được nằm cáng một lần cho biết. Mình cũng nghĩ thầm như anh cả. Không ngờ cha nói với họ xếp cáng lại, cùng đi bộ. Những người đi đón thì ngạc nhiên, anh cả và mình thì tiêng tiếc. Cụ râu dài, ông quan Bộ Hình cứ nài nỉ cha lên cáng, đây vừa là tôn sư trọng đạo của các bậc phụ huynh, vừa là để cái tiếng trong dân làng đã đón rước được quan cử, một danh sư ở kinh đô về tọa giáo. Nhưng cha cứ từ chối, đã quen đi chân đất. Từ Nghệ An vào kinh đô, rồi từ kinh đô về Nghệ An mấy lần đi đi về về bằng đôi chân này. Còn từ đây xuống Dương Nỗ đường đất chẳng đáng chi. Họ đành phải chiều ý cha mình. Cụ râu đen lại xin với cha mình cho hai anh em ngồi cáng kẻo phu chúng tôi đi không cái vai họ sinh ra buồn, cha vẫn không cho. Mọi người đang ở sân phì cười về câu nói vui của cha: “Có những kẻ nằm trên cáng cho người khác khiên tưởng rằng mình oai lắm, sang trọng lắm. Tôi nghĩ khác. Người nào chẳng đui què mẻ sứt hoặc chẳng phải già nua ốm đau gì mà vẫn nằm cho người khác khiêng là đã hóa thân làm lợn”. Về đến cửa Thành, Côn chợt nghĩ ra một mẹo làm cho mẹ vui bất ngờ. Côn ghé vào nhà Đầu-Trái-Bưởi, mượn bộ quần áo vá nhiều miếng, lại còn lấy dây buộc túm chéo một cách lôi thôi. Côn mặc trùm nó ra ngoài bộ quần áo đang mặc trong người. Đầu đội cái nón mê, đeo bên hông một cái bị cũ kỹ, mặt mũi bàn tay bàn chân bôi lọ lem luốc, tay cầm gậy đi về nhà, Côn cũng vờ đi cà nhắc một cách thiễu não. Về đến ngõ, Côn dừng bước, trống ngực đập thùm thùm như trống làng. Côn cố trấn tĩnh nhìn vào nhà, con mèo nằm ủ rũ trên án thư, nơi hàng ngày Côn để sách học bài. Không nhìn thấy rõ mẹ mà Côn chỉ nghe tiếng xệch xệch xệch từ trong nhà vọng ra biết mẹ đang dệt vải. Côn muốn cởi phăng bộ đồ cải trang chạy vào ôm lấy mẹ nhưng lại muốn mẹ được một trận cười bất ngờ! Côn đi lò dò vào trong sân, lên tiếng: “Con lạy ông lạy bà, làm phúc cho con lẻ gạo, đồng tiền để…”. Côn thấy mẹ ngó nhìn qua khung cửa sổ. Côn liền cúi thấp xuống, cái nón mê che khuất hẳn mặt, nhưng Côn liếc chéo thấy mẹ đứng lên đi xuống nhà bếp. Côn lại nhìn vào nhà học, con mèo cũng dỏng tai và nhìn Côn như lúc nó rình con chim sẻ trên sân. Bỗng con mèo vươn người đi ra cửa cất tiếng meo…meo rồi chạy đến rúc đầu vào chân Côn. Bà cử Sắc cũng vừa trong bếp bước ra, một tay bưng bát cơm, một tay cầm lon gạo sựng người lại nhìn con mèo đang quấn quýt quanh chân em bé ăn xin! Côn vứt nón, bị, gậy chạy lại mẹ. Con mèo cũng cạy theo Côn. Bà cử Sắc nhìn con rụng rời thả cả bát cơm, lon gạo xuống sân đổ vung vãi! Côn ôm choàng lấy mẹ! “Con đùa mẹ….con đùa mẹ để mẹ cười….chẳng hay con mèo….con mèo nó tinh khôn quá”….
Bà cử Sắc hoàn hồn, xoa đầu con:
- Con đùa dại dột quá! Làm mẹ chẳng còn hồn vía nữa! Con đùa kiểu ni có ngày mẹ ngã lăn ra mất!
Bà nhìn con mèo đang lượn vòng quanh chân Côn và chân bà. Bà giục con:
- Con cởi ngay quần áo hành khất đi! Con moi ở mô ra cái của “ông Trạng Tống Trân” ấy? Bé mèo nó đang vòi con bế nó đó. Từ hôm con đi với cha, ở nhà bé mèo gần như bỏ ăn đó. Nó mới ăn nhóm nhén vài bữa nay.
Đầu-Trái-Bưởi ngồi xuống cùng hót gạo….
- Chào cháu…
- Chắc bác nỏ nhận ra được cậu Côn?
- Cháu cũng biết cái trò ni của Côn à?
Đầu-Trái-Bưởi nhìn Côn. Côn đặt con mèo xuống cởi bộ quần áo hành khất ra, thưa với mẹ:
- Mẹ ơi, con nhờ anh ấy cải trang cho con mẹ ạ.
- Thưa bác, cậu Côn bày với cháu mần trò cho bác được vui nhiều và bác vui thiệt là vui mà nỏ ngờ được ạ.
- Ôi! Bác hiểu ý tốt của em nó. Em nó thường nghĩ ra cái trò vui cù cho cả nhà cười tức bụng. Tấn trò bữa ni bác hú vía cháu ạ. Bác đâu có ngờ! Chính con mèo lại không bị mắc lừa cho nên bác mới ngớ người lúc thấy con mèo chạy đến mừng rỡ quanh chân em bé đến “ăn xin” bác mệt quá.
Bà cử Sắc vừa nói vừa thở, dáng người uể oải. Côn ân hận về cái trò vui của mình không thích hợp, vì mẹ Côn đang có mang! Côn đỡ lấy tay mẹ dắt vào nhà. Giọng Côn ngân rung buồn bã:
- Con biết lỗi rồi mẹ ạ. Mẹ tha lỗi cho con. Con quên khuấy mẹ dạo rày không được khỏe, mà lại bày cái trò hú vía này!
- Con chơi trò cải trang lừa mẹ và con mèo là trò vui có hại chi mô. Chỉ vì mẹ không được khỏe mà gặp việc thình lình thì mẹ nỏ tự chủ được mình thôi.
- Mẹ à. Con bày ra cái trò này là vì các ông cụ ở làng Dương Nỗ đến chào cha, các cụ đều nói với cha về khuôn mặt con, đôi mắt đi đến đâu cũng không lẫn với ai được dù có ăn mặc rách rưới, lọ lem vẫn cứ lộ diện mạo ở hai con mắt.
Bà cử Sắc nói đã bình hường hơn:
- Vì con che cái nón rách, mẹ chưa nhìn rõ được mặt con thì mới hốt hoảng lúc nhìn thấy con mèo quấn quít lấy con!
Đầu-Trái-Bưởi đã quét sạch cả sân giúp bà cử Sắc. Em chạy vào nhà chào bà cử Sắc để về đi công việc cho ông ngoại. Bà cử ngồi dậy cảm ơn em Đầu-Trái-Bưởi đã đỡ đần bà việc quét dọn sân sới. Côn tiễn bạn ra tận ngõ, tay vẫn còn bế con mèo. Bà cử chải lại đầu trước lúc đi xuống bếp làm cơm cho con ăn bữa trưa.
Ánh nắng quá Tỵ sang giờ Ngọ đốt sáng màu xanh cây vườn tỏa dịu bóng sân. Con mèo đã như chú beo con, nép mình bên khóm ngâu rình vồ đàn chim sẻ vừa sà xuống góc vườn bên hồi nhà. Tiếng ong bay trong veo thoáng mau. Tiếng ngựa hí từ phía viện Đô sát vắt qua những vòm cây vọng tới chói chang. Mẹ con bà cử Sắc ngồi trên hai đầu chõng tre, giữa đặt mâm cơm với vài món thức ăn đạm bạc. Bà cử xới cho mình chỉ lưng bát cơm, bà ăn để con vui bữa chứ bà không thấy đói. Bà vừa tiếp thức ăn cho con vừa chuyện trò.
- Các con đi với cha xuống Dương Nỗ cũng chưa lâu mà mẹ cứ ngỡ như đã xa lắc xa lơ.
- Mẹ biết không, xuống dưới đó hôm trước, hôm sau con và anh cả đã muốn chạy vù về với mẹ. Cả mấy đêm đầu con nhớ mẹ quá không ngủ được mà con chẳng dám nói với cha. Con cũng thấy cha khó ngủ, anh cả có lúc mơ mơ màng màng ngồi thốc dậy. Con vờ nằm như đang ngủ say. Anh cả lay khẽ khẽ gọi con. Anh nói nhỏ với con anh tưởng đang ngủ ở nhà với mẹ.
- Tội nghiệp – Bà cử Sắc nói tiếp – Cha con ăn uống có được ngon miệng như ở nhà không con?
- Dạ, ở dưới đó họ trọng thầy học cũng chẳng kém chi ở kinh đâu mẹ ạ. Nhà chủ nấu riêng một nồi cơm gạo ngon, các món cũng nấu riêng dành cho cha con thầy học. Cha đã mời ông chủ lên nói, các cụ nên cho ba cha con chúng tôi cùng ăn như cả nhà. Nếu các cụ đối đãi cha con tôi…như đối với nhưng ông quan đi “hoạn dân” thì tôi sẽ không ở lại dạy học nữa. Từ bữa đó, ông chủ nhà đều ngồi ăn cùng mâm với cha và chúng con. Cha đã bắt đầu ăn được hai bát mỗi bữa như ở nhà mẹ ạ.
- Ai dẫn con đi từ dưới Dương Nỗ về?
- Thưa mẹ, con đi một mình về đây thôi ạ.
- Con đi một mình – Bà cử ngạc nhiên liều quá. Răng cha con không nghĩ có thể xảy ra sự bất trác, như…con không nhớ hết đường vì mới đi qua có một lần, lại còn sợ trên đường phải qua làng ni làng tê gặp phải các đứa trẻ nó thấy con lại đi một mình chúng bắt nạt thì….
Côn đỡ lời mẹ ngay:
- Lúc đầu con cũng nơm nớp sợ như mẹ vừa nói. Các cụ dưới đó có xin với cha để cử người đưa con về tận nhà. Ông quan bộ Hình, nhà gần nơi cha ngồi dạy học cũng dặn chủ nhà khi nào con trở về Kinh thì cho ông biết để ông đưa đi một thể. Nhưng cha đều từ chối. Cha nói phải để con tự đi một mình, tập cho quen dần để có tính tự lập. Các cụ dưới đó rất lo lắng cho con nhưng không dám bàn thêm với cha lời nào nữa. Các nho sinh đến học với cha, tuy mới làm quen nhưng rất mến nhau. Lúc biết con đi về thành Nội một mình mà đường sá mới đi qua một lần, các anh lớn tuổi muốn đi với con cho có bạn. Các anh Tôn Thất Tuấn, Diệp Văn Kỳ, Hồ Quang đều xin phép để được đưa con về tới bến đò Tràng Tiền rồi quay xuống Dương Nỗ, cha dứt khoát không cho một ai đưa con đi về. Cha còn hỏi con: “Cư ô tại? Lộ ô tại?” Con thưa “Nhân thị dã, nghĩa thị dã”. Cha cười nói con biết lối về rồi đó. Đi đi.
Bà cử Sắc nhắc con:
- Con ăn đi đã. Con và nốt bát cơm chan kẻo nó vữa.
Côn và vội mấy đũa liền. Côn vét đến hạt cơm cuối cùng, lòng bát sạch như vừa tráng nước. Đặt bát đũa xuống mâm, Côn bỗng nhớ ra, vừa nói vừa cười tươi:
- Mẹ ơi bữa nay con lại quên làm theo lời mẹ dạy: ăn phải nhai kỹ, nói phải nghĩ chín. Bát cơm sau con nhai dối mẹ ạ.
- Ừ con đã nhớ ra cái điều mình quên thì lần sau sẽ không quên nữa.
Côn gọi con mèo vào, đặt bát cơm ở đầu cái chõng. Con mèo dúi dúi cái đầu vào bàn tay Côn nũng nịu rồi mới ăn. Côn vuốt lưng nó:
- Không ngờ giống mèo, giống chó mà cũng có nghĩa có tình! Mèo ơi. Mày cũng biết nhớ tau đến nỗi bỏ ăn, bỏ chơi kia à? Giá mầy cũng biết nói, biết đọc chữ Thánh hiền như người thì mày còn tốt bụng lắm lắm phải không?
Côn lại hỏi mẹ:
- Từ bữa con vắng nhà, mệ Huệ Minh, chị Hạnh, bé Văn…có đến nhà ta lần nào không mẹ?
Bà cử Sắc vừa dọn dẹp liền tay vừa kể lại từng việc trong những ngày qua cho Côn nghe. Bà tấm tắc khen Huệ Minh, Lê Thị Hạnh:
- Đến ngày lớn tuổi, lấy chồng có chức cao, quyền thế làm mệnh phụ phu nhân thì chưa biết ra sao, còn hiện tại đang là thiếu sinh thì hai cô tốt, hiền thục đến mực. Vài ba ngày cả hai cô cùng đến nhà ta một lần. Đã đến đây hễ thấy có việc là làm giúp mẹ. Có khi hai cô ra chợ mua giúp rau đưa cho mẹ. Điều đầu tiên là các cô hỏi thăm thầy rồi mới hỏi các con. Mẹ để ý thì Công Tôn Huệ Minh quý mến con nhiều, bao giờ cô ấy cũng chỉ hỏi một mình con thôi. Còn cô Hạnh thường hỏi thăm cả hai anh em.
Côn hồn nhiên đỡ lời mẹ:
- Thỉnh thoảng anh cả nói với Huệ Minh và Tôn Thất Tuấn: “Con vua thì lại làm vua. Liệu ngày đó các mệ có còn nhớ tụi mình không?”
Bà cử Sắc thuật lại tỉ mỉ với Côn việc bố mẹ Xển Văn chạy đi chạy lại ngày một thân thiết hơn, chia sớt từng con cá lá rau cho nhau. Bé Văn nhớ thầy, nhớ bạn bỏ ăn mất mấy hôm đầu. Chú phó Tràng đi làm mộc phương xa có lẽ chưa về. Bà còn nói cho Côn biết ông đầu xứ San (Phan Bội Châu) đã lên đường về Nghệ An để sửa soạn dự thi Hương khoa Canh Tý sắp tới.
Trời xế chiều. Tiếng rao quà rong lang thang ngoài đường. Tiếng vó ngựa vút qua. Tiếng trống Tam Tòa đung đưa bóng nắng. Tiếng dệt cửi của bà cử Sắc trầm trầm, mỏng manh đan vào dòng âm vang thành Nội buổi vãn chiều.
Côn xin phép mẹ:
- Mẹ cho con đến coi chú phó Tràng đã về chưa, rồi con sang bé Văn mẹ nhá;
- Chú phó Tràng về rồi thì đã sang đây. Chắc chú ấy chưa về mô con ạ. Con sang thăm ông bà Văn và chơi với Văn, nó mong con lắm đó. Con liệu về sớm đừng để tối quá, nghe con.
- Dạ, con còn phải giảng lại sách cho bé Văn nữa mẹ ạ - Côn lấy trong tay nải cuốn sách bài giảng giải của cha đưa cho mẹ xem – Cha gửi sách học về cho bé Văn, mẹ ạ.
Bà cử dừng tay thoi đỡ lấy cuốn sách trên tay con:
- Ừ! Cha con đã cho bé Văn học sách Đại học rồi – Bà mở một số trang sách ngắm nghía những hàng chữ của ông cử soạn theo sách Đại học. Bà gật gù mĩm cười:
- Chữ cha con đẹp như sao sa.
Côn kẹp sách vào nách, chào mẹ rồi quay lại gõ nhè nhẹ vào đầu con mèo đang nằm ngủ:
- Ở nhà ngoan nhá. Biết vâng lời người lớn và siêng bắt chuột, nghe không bé mèo.
Con mèo nằm im chỉ vẫy vẫy tai. Côn chạy vù ra sân, mồm đánh nhịp:
Miêu…miêu…miêu…
Thử….thử….thử….
Sát….thử….thử…
Ghi….công….miêu….
Bà cử nghe tiếng con vọng vào, bà nói cười một mình trên khung cửi:
- Thằng bé sáng dạ lạ lùng. Nó nói đùa với cơn mèo mà cũng thành một bài thơ ghi công mèo vồ chết chuột…
PHẦN 16
Chú phó Tràng. Ba tiếng ấy ông mang từ lúc lên tuổi mười sáu. Đó là biệt danh của một nghề nghiệp. Vì chưa thành niên ông đã nổi danh là một thợ mộc giỏi. Người ta ban cho tiếng “chú phó” là một sự công nhận về nghệ thuật. Tiếng “Tràng” là cha mẹ đặt cho ông. Cái tên “Tràng” cũng có tích. Cái tích ông tổ từ xứ Quảng Nam đem nghề đẵn gỗ trên ngàn, gọi là nghề sơn tràng. Đến ông cố tổ đời thứ năm làm thợ mộc, và danh tiếng lừng lẫy là ông tổ đời thứ sáu. Được vua Càn Long vời ra kinh đô Phú Xuân.
Ông có trong tay một “phường mộc” gồm những người thợ giỏi đủ các loại. Phường mộc của ông dựng được đủ kiểu nhà, các dinh thự, cả cung điện, lâu đài. Ông được bộ Công bổ nhiệm trong coi việc xây cất, tu bổ các cung thất trong Đại Nội. Từ đó, ông tổ xây cơ lập nghiệp tại phường Phú Hậu, đông kinh thành. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, nhà thờ họ của phó Tràng có thờ cả sắc của vua Minh Mệnh ban thưởng vì đã có công xây dựng Đế đô. Những tháng năm vun đắp tình láng giềng với nhà ông bà cử Sắc, chú phó Tràng thường kể ra những điều ấy. Có lần phó Tràng đã tâm sự với người bạn nhỏ tuổi Nguyễn Sinh Côn:
- Đời ông, đời cha của chú vẫn còn nổi danh nghề thợ mộc, vừa có tiếng giàu sang. Nhưng cha chú vì lận đận về đường con cái, sanh ra say mê cờ bạc. Ông già phải ba lần vợ mà vẫn chưa có con trai. Chú là con bà thứ tư mà cũng là đứa con trai độc nhất của ông. Thật là éo le, lúc cầu tự con trai thì cha chú đã khuynh gia bại sản vì thua cờ bạc, vì tốn kém lễ bái khắp thập phương. Nỗi lo của ông là sợ tuyệt nòi giống, không có con trai thì không truyền được nghề mà tổ tiên đã dày công hun đúc, chuốt trau.
Khi kể lại với Côn cái điều ấy, phó Tràng cười chua chát:
- Tính khí mỗi người mỗi vẻ cháu ơi. Đúng như câu cửa miệng của các cụ “Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một bệnh”. Cha của chú khát khao có một người con trai mà chưa được thì đâm ra khát canh bạc. Cũng may ông già có hoa tay, giỏi nghề mới khỏi được cái cảnh đầu đường xó chợ. Ông truyền ngay cái nghề cầm cưa cầm đục cho chú từ năm chú mới sáu tuổi. Không thể cho chú theo đòi bút nghiên được, ông già đành nuốt hận bắt con học nghề của mình ở tuổi trứng nước vì ông gần bảy mươi tuổi là cái tuổi gần đất xa trời, nếu không truyền nghề ngay thì cũng coi như mất nòi vậy. Việc đầu tiên ông già trao cho chú cái bút và giấy tập họa các khung cửa sổ, khung cửa tiền, cửa hậu của một ngôi nhà. Rồi họa từng bộ kèo nhà, mái nhà, hình hai đầu nối, hình chái nhà, hình lan can…tiến tới hoạ hình một ngôi nhà ba gian, ba gian hai hồi. Họa kiểu nhà nhìn mặt tiền, nhìn mặt hậu, nhìn nghiên, nhìn chéo góc…Ông dạy cho chú thuộc được cái bề ngoài của một ngôi nhà rồi mới dạy chú họa các thứ ở trong ngôi nhà mà ông gọi là “nội thất”. Trong lúc cầm bút học họa thì ông cũng dạy cho chú cầm hòn mực kẻ, càm bào, cầm đục, cầm cưa. Riêng về việc cầm đục, ông bắt chú tập đủ các loại đục. Theo chú, khó nhất là đục soi đến cái đục chàng. Vì có sành đục soi thì mới đục được những lỗ trong, nếu đục không tinh xảo thì đóng mộng vào không khít nhẵn. Thú vị là ông già thường dùng vè, dùng lối câu đố về các dụng cụ của nghề mộc để dễ nhớ, cháu ạ.
Phó Tràng nhờ Côn:
- Cháu đưa giúp chú cái hộp mực kẻ.
Phó Tràng chìa hộp mực kẻ ra trước mặt Côn, chỉ dẫn : Cháu thấy cái hộp ni có từa tựa con thuyền không?
- Giông giống chú ạ.
- Trong cái hộp ni lại có một que sắt cuộn sợi dây tẩm mực đen. Muốn kẻ một đường thẳng trên thân gỗ để lấy cữ mà cưa thì một người cầm đầu sợi dây kéo dài ra. Lúc thu dây vào lại phải quay quay cái que sắt như bơi chèo. Chú nói với cháu nó dài dòng như vậy đó, nhưng ông già bày vẽ cho chú bằng một câu đó rất ngắn gọn “Thuyền gỗ, chèo sắt, đi dắt về chèo”
Côn tròn xoe mắt ngắm hộp mực:
- Chú giảng giải cháu nghe cũng hiểu được nhưng rườm rà lắm chú ạ. Nhưng chú nói bằng câu đố cháu hiểu ngay và thuộc liền. Chú được cụ dạy nghề thích ghê, chú nhể? Chẳng trách chi chú lừng danh, ai cũng chuộng tay nghề của chú.
- Ông già bày vẽ cho chú rất tỉ mỉ trong từng việc vì ông rất nghiêm khắc trong khi học. Chú bào dối một tí là bị ông già mắng ngay và phải phạt bào cho tới lúc ông ưng ý mới được nghỉ. Những lúc thành nghề, ông già lại không bao giờ khen làm theo kiểu của ông. Ông luôn dặn chú:
- Con học nghề của cha. Nhưng con phải làm nghề theo cách của con. Con phải vắt cái óc của mình nóng lên thì nó mới sáng láng mà tìm tòi ra những cái đẹp, cái hay, cái của chính mình chứ không phải của sự bắt chước. Bắt chước là em, ăn cắp là anh vậy. Nếu người nào cũng như người nào thì thế gian này sẽ nghèo xơ nghèo xác.
- Cụ nói với chú, cháu nghe như lời cha cháu cũng thường giảng cho học trò, cho cháu, chú ạ.
- Ừ! Có thể…cháu ạ. Cha cháu là thầy, cha chú là thợ. Thầy và thợ có thể gặp nhau ở điểm chí nhân. Để chú kể cháu nghe thêm về chí nhân mà chú đã lĩnh hội được ở cha chú – Phó Tràng giọng nói lúc này êm ả, không sôi sục như thường ngày – Cha chú dạy nghề cho chú bằng cách đó, nên năm chú mười bảy tuổi đã giám giữ vai thợ cả đứng một nếp nhà gỗ ba gian hai chái. Ông già nhận khoán với gia chủ rồi giao hẳn cho chú cáng đáng. Cho chú được lựa chọn những thợ phụ. Cứ dăm hôm ông già đến xem xét công việc của chú điều hành. Hôm chủ nhà làm cỗ mừng công thợ, cha chú đến chỉ uống một chén tống rượu mừng cho con rồi về liền. Lúc chú về nhà, ông già đã biện một mâm cơm đón chú. Ông già nói: “Hôm trước gia chủ họ mừng công thợ mà cha cũng ngồi dự là vô nghĩa lý. Một thành công của con là một niềm vui mới của cha thì cha phải dành đón niềm vui ấy tại nơi cha con bày vẽ cho nhau chứ”. Trong bữa rượu, ông già giao thêm công việc mới cho chú luôn. Ông nhận xét việc làm vừa xong chỉ mới là “quả chín bói”, còn phải trải nhiều gian truân trong hành nghề thì mới thành nghệ nhân được. Học để làm thợ thì dễ, thành nghệ nhân thì không dễ đâu. Ông giao cho chú trùng tu một ngôi đình làng ở tận Điện Bàn. Ông đưa chú về tận nơi, xem tận mắt ngôi đình bị hư hại vì đã lâu đời lại do cuồng phong của một trận bão lớn. Ông già tra cứu quyển gia phả, chỉ cho chú biết lai lịch ngôi đình, chú hỏi thêm các cụ trong làng về ngôi đình lúc còn nguyên vẹn. Ông già không ở cạnh chú lúc chú đang trù tính công việc. Ông già nói đi nhận khoán ở tận nơi xa. Về sau chú biết đó là ý định để chú không lướng vướng có cha nên cạnh sinh ra ỷ lại khi gặp việc khó. Khi chú đã họa đồ xong, ông mới đến xem và nói một tiếng rất gọn “Được”. Cái tiếng “Được” ấy mà hơn mười người thợ phải mướt mồ hôi, chú thì sôi đầu óc mới tu tạo xong ngôi đình hình chữ đinh, gồm tòa đại đình và hậu cung. Tòa đại đình có năm gian, hai chái, bốn hàng cột lim to, hai người vòng tay mà chưa khép kín. Các góc mái tòa đại đình ở phái ngoài đều đắp những đầu đao uốn cong hình rồng lượn, bên trong các đường xà ngang, xà dọc, vì kèo, bức cuốn….đều được chạm trổ hình tứ linh, phong cảnh…. Các phiến đầu nối ngàm đỡ cũng được chạm trổ hình đầu rồng cách điệu, các gian chái hai bên đại đình, hậu cung cũng được chạm trổ theo lối cân đối: rồng bay phượng múa, triêu dương hoa điểu…Phía trước đại đình là một ngôi tiểu đình tám mái hình hoa sen nở. Hai dãy nhà phụ là tả mạc, hữu mạc. Năm chú được giao phó công việc nớ đúng mười chín tuổi. Trước ngày dân làng mở hội ăn mừng, mời phường trò về hát ba đêm tại đình nớ, cha chú đã ôm lấy chú, hai giọt lệ trong như ngọc đậu ở khóe mắt, giọng ông run lên: “Cha cứ lo dòng họ mình mất nòi, mất giống hoặc chỉ có giống mà không được nòi. Nhà ta còn to phúc. Cha có nhắm mắt xuôi tay ngay chừ cũng yên cái bụng rồi con ạ”. Bây giờ ông già mới cho chú biết thêm về cái tích đặt tên cho chú là năm ông được bộ Công tiến cử đến sửa chữa cung Trường Ninh theo chiếu vua Tự Đức. Giữa khi ông đang trông coi công việc thì mẹ chú ở nhà sinh chú. Ông mừng suýt phát ốm to. Ông đặt tên chú là Trường. Nhưng phạm húy của một ông tổ, cha chú trại sang là Tràng.
Phó Tràng úp mặt tấm ván đã bào nhẵn, rồi vừa bào vừa trò chuyện. Côn chăm chú nghe phó Tràng kể chuyện sôi nổi, tay vẫn miết mũi dao tập khắc vào bản gỗ:
- Ông già chú thiệt là kỳ. Chú vừa lập được một công to, lẽ ra ông giao cho chú một công việc còn quy mô hơn cả việc trùng tu đình làng. Trái lại, ông dẫn chú ra Hàng Bè, vào một cái quán lụp xụp, có một bà cụ lưng hơi còng ngồi bán nước chè. Ông sai chú phải dựng lại cho cụ một cái quán đàng hoàng hơn và đóng thêm hai cái ghế yên ngựa dài để đủ chổ khách ngồi uống nước. Chú tái mặt! Vì đang có cả chủ quán, chú cố nén nổi buồn không dám nói trái ý cha. Ra khỏi quán nước, chú thưa lại với ông già của chú: “Cha giao cho con làm cái việc tạp nham ni chẳng khác chi một ông vua phạt một trạng nguyên ra ngồi trước cổng pháp đình để viết đơn thuê cho các người đi kiện tụng”. Ông già chú xòe hai bàn tay chai dày chộp vào hai vai chú, lắc mạnh, ông nói như rít lên: “Tr….ời! Cha tưởng con theo được đạo chí nhân, dè đâu là kẻ bất nhân. Cha truyền nghề cho con, nâng dắt từng bước để con thành người thợ giỏi đâu phải chỉ cầu mong con đi làm kiệu rước vua, đóng ngai cho vua ngự? Cha dạy nghề mộc cho con cốt để con đóng ghế cho dân ngồi, làm nhà che mưa che nắng cho dân ở. Nếu con đóng ngai cho một đấng minh quân ngự là làm được việc có ích chẳng may lại là hôn quân bạo chúa thì việc làm của con trở nên vô ích. Còn cái việc con đóng ghế cho hàng chục hàng trăm người ngồi ở quán nước, ở cửa chợ, ở sân đình thì bao giờ cũng là việc có ích, con ạ….”
Phó Tràng dừng tay bào. Yên lặng. Côn biết chú phó Tràng đang nghẹ ngào liền kiếm chuyện khác:
- Chú ơi, năm chú sáu tuổi, chú đã họa được hình các kiểu nhà. Mười chín tuổi đã là ông thợ cả tu bổ đình làng. Chú xem cháu gần mười tuổi rồi mà khắc một cái vòng tròn,, hai cái dây ngoằn ngoèo này, được gọi là “lưỡng long triều nhật” mà chưa đâu đến đâu.
Phó Tràng không nhìn vào bản khắc mà nhìn vào đôi mắt lung linh ánh ngọc của Côn:
- Chú là người thành nghiệp rồi mới nên người. Trái lại cháu thành người rất sớm. Một người như cháu, nghề gì cũng sẽ làm nên cả.
- Chú thương cháu nhiều mà quá khen chứ cháu vụng tay lắm.
Phó Tràng đến ngồi xuống bên cạnh Côn, cầm con dao khắc, hướng dẫn cho Côn cách khoét lộng đường rãnh sâu để tạo ra cái hàm rồng.Côn chăm chú theo dõi bàn tay uyển chuyển của chú phó Tràng. Chốc chốc Côn ngắm khuôn mặt phó Tràng rất giống khuôn mặt tượng Phật ở chùa Diệu Đế. Hai tai như hai chữ “nhĩ” viết chân, nối từ đuôi lông mày xuống ngang miệng. Mũi to trái, đường sống thẳng và cao. Hai mắt cũng to, dài như hai cái lá đào phai. Miệng rộng, môi dày và thẳng như chữ “nhất”. Hai lông mày cũng như hai chữ “nhất” tô đậm. Côn thầm nhớ điều mẹ thường nói với các bà bạn, những người đi cầu tự ở chùa hay ở đền, sinh con thường giống mặt Phật.
Phó Tràng trao lại con dao khắc cho Côn. Côn nhớ bất chợt hỏi:
- Chú ơi, tại sao các ông, các cậu con trai thuộc dòng dõi nhà vua đều gọi là mệ, hả chú?
Hồi nhỏ chú cũng chưa rõ ngọn nguồn về cái tích ấy. Mọi việc trên đời chú đều cho là có tích cả. Khi chú khôn lớn, đi làm thợ, cái nghề phó mọc ni đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều. Cái đầu chú như một cái thùng chứa đủ thứ chuyện trên đời, trong đó có cả tích “mệ”, một biệt hiệu của các ông con cháu nhà vua triều Nguyễn ni. Chả là, chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương. Ông Vương ni phải cái số lận đận về đường con cái. Các bà vợ của Vương sinh đứa con trai mô cũng bị ngoẻo. Về sau, có người bày cho Vương gọi con trai bằng “mệ” tưởng như con gái có khi lại nuôi được. Từ cái thời ý (1744) mà truyền lệ cho đến các đời vua sau của triều Nguyễn, cháu ạ.
- Còn kinh thành ni xây từ đời chúa nào hả chú?
- Ch…a…a! Câu hỏi của cháu nghe tưởng dễ ợt, nhưng lại hóc hiểm như vua hỏi các ông sĩ tử trước sân đình. Hề, hề - Phó Tràng cười thoải mái – Việc xây cất cái kinh thành ni là cả một pho sử đấy. Chú chỉ là anh phó mộc chứ mô phải quan Biên tu Quốc sử quán, cháu ơi.
Côn nhắc lại câu chú phó Tràng thường nói:
- Nghề thợ của chú được đi nhiều nơi, thầy nhiều, nghe nhiều…Cái đầu của chú là cái thùng rác chứa đủ mọi thứ chuyện trên đời thì chuyện xây kinh thánh Huế, trong đầu chú ắt phải có, mà kinh đô Huế là nơi chôn nhau của chú nữa?
Phó Tràng bậc cười:
- Cha…trời! Cháu đục xoi một lát vô tận tim đen chú. Chú chịu cháu rồi. Cháu moi chuyện đến rứa là tài. Tài lắm.
- Thưa chú, ngày cháu theo cha mẹ cháu trẩy Kinh, bà ngoại cháu, dì An, chị Thanh cháu và cả năm đứa bạn cháu đều dặn cháu ngày ở Kinh đô về phải có nhiều chuyện làm quà. Cháu lo vì đã gần bốn năm ở Kinh đô rồi mà vốn chuyện trong đầu còn lưng lắm chú ạ.
- Cháu tốt bụng quá. Cháu học được chữ cũng đem chia chữ cho bạn. Cháu vô kinh đô cũng lo lắng đem phần quà chuyện lạ về cho bà, cho dì, cho chị, cho bạn ở quê nhà. Nếu chú là kẻ độc ruột thì cũng phải ngẫm nghĩ tự xấu hổ! Chú nỏ giấu giếm ai cái chi cả. Nên chi, cháu hỏi từng việ, chú biết đến mô kể cho cháu đến đó.
- Cháu chưa biết xứ Huế thành kinh đô từ đời vua nào chú ạ?
- Từ đời Gia Long cháu ạ. Xa nữa thì không được biết, chú chỉ được nghe truyền lại là chúa Nguyến Phúc Ánh thắng được nhà Tây Sơn vào năm Tân Dậu (1801), xưng đế là Gia Long (1802), lấy Huế làm kinh đô, đổi kinh đô thành Thăng Long là Bắc Thành.
- Ngày Gia Long lên ngôi đã có kinh thành, Hoàng thành, Ngọ Môn, Cung điện như giờ chưa chú?
- Mới chỉ là một cái phủ sơ sài thôi. Tận đến năm Ất Sửu (1805), Gia Long mới xuống dụ về việc dò tìm dấu tích thời chúa Nguyễn Tiên (Nguyễn Hoàng) vô trấn thủ. Bấy giờ mới cho bao một vùng rộng lớn suốt tám làng để xây cất kinh thành.
- Chú có nhớ được tên tám làng ấy không chú?
- Hề hề….Cháu truy chú dữ hề. Được. Chú còn nhớ cả. Cháu đếm đi. Làng Phú Xuân, làng Vạn Xuân, làng Điền Phái, làng Vạn Cẩn, làng An Hòa, làng Thế Lại, làng An Mỹ, làng An Bửu. Cháu đếm đủ chưa?
- Dạ, đúng tám làng chú ạ. Mà xây trong bao lâu mới được như hiện giờ, hả chú?
- Rất may cho chú là có các ông tổ được tiến cử tham gia vào công việc xây cát kinh thành, gia phả ghi chép khá rõ để con cháu biết thì chừ chú mới moi được ở trong đầu ra kể với cháu. Hề…hề…
Phó Tràng cười to, cầm thỏi mực kẻ ghi dấu lên tấm ván:
- Năm…năm Ất Sửu! Đúng. Tháng tư năm Ất Sửu (1805) bắt đầu đắp thành đất. Bắt lính, dân xung quanh kinh thành đến đào đắp liền tù tì bốn tháng thì nghỉ. Đến năm Đinh Mão (1807) lại tiếp tục đắp lai rai khoảng mười năm..cũng năm Sửu nhưng là Đinh Sửu (1817). Sang năm Mậu Dần (1818) thì bắt đầu xây gạch. Có lẽ không đủ gạch xây một lúc nên chỉ xây được phía trong thành Nam, phía Tây, phía Bắc. Ba mặt thành ni xây mất ngót một năm. Trong phổ hệ của họ chú có ghi công của một ông tổ tên là Nguyễn Đức Sỹ đã cùng các ông Hoàng Công Lý, Trương Phúc Đảng coi việc xây thành ni. Chẳng may, năm Canh Thìn (1820), Minh Mạng nguyên tiêu có trận mưa to, rất to, đã làm đổ thành, dài tới gần ba trăm trượng. Năm Tân Tỵ vừa xây lại chỗ thành bị đổ và xây tiếp một thành phía Đông. Trời lại trừng phạt tiếp một trận mưa, thành địa bị đổ tới hai ngàn năm mươi bảy trượng. Đến năm Giáp Thân (1824) công việc xây thành mới được hoàn thành. Trong phổ hệ cũng ghi rõ, ông tổ của chú được hưởng bổng một khoản tiền bằng năm tháng công và được thăng hai trật.
- Ở ngoài quê cháu cũng có thành Vinh cao gần như thành Huế. Nhưng cháu chẳng biết một tí chỉ vì ngày ở quê cháu còn bé xíu chú ạ.
- Chú nỏ có dịp ra ngoài ấy, nhưng được nghe nói thành Vinh, thành Phú Diễn ở Nghệ An cũng kiên cố, đường bệ lắm.
- Thế nào cũng có ngày cháu theo cha mẹ cháu về thăm quê, cháu sẽ hỏi bà ngoại cháu về lai lịch của thành Vinh, bà ngoại cháu cũng là một kho chuyện chú ạ.
- Cháu nghĩ rứa là phải. Phải biết ngọn nguồn, gốc tích từ cái đình làng, cái bến đò, gốc cây cổ thụ nơi mình sinh ra, mình lớn lên.
- Hồi hè năm ngoái, cháu rủ các bạn cháu đi vòng qunah thành để biết thành có mấy cửa lớn, nhưng mỏi chân, bạn cháu đòi quay về. Cháu chưa dám đi một mình chú ạ.
- Cháu đi xuống Dương Nỗ và từ đó về đây một mình được thì đi vòng quanh kinh thành cũng được thôi.
- Là…nghĩa là chu vi thành chừng bao nhiêu trượng hả chú?
- Khoảng chừng...phó Tràng tính nhẫm - hơn hai ngàn…tư trượng (9.949,44m) cháu ạ.
- Cháu thấy thành Vinh ngoài quê cháu thấp và mõng hơn thành Huế này.
- Thành ni cao hơn một trượng (6m), bề dày của nó đến năm trượng chứ ít (20m)!
- Có khi hai ba xe song mã cùng chạy trên mặt thành được, chú nhể? Lại còn có hào bao quanh chân thành, về mùa hạ sen ngút ngát cả mắt.
- Hào sâu tới một trượng, rộng hơn năm trượng (22,80m) bằng với mặt thành đó cháu. Có kiên cố rứa, các vua và triều thần mới an tọa cháu ạ.
- Dạ thưa chú, cháu được nghe cha cháu nói với quan Thượng thư Đào Tấn: “Giữ giang sơn, xây nghiệp đế bằng lòng người thì bền vững hơn là thành trì và binh khí”
Phó Tràng thở dài, mắt đăm đăm nhìn vào xa xăm:
- Đúng! Lời bàn của thầy cử nhân Nguyễn Sinh Sắc chí phải. Tiếc thay, những bậc tai mắt của nước Nam ta đều biết sách dựng nước, giữ nước mà khi lâm sự thì phải bó tay chịu mất nước. Thành trì kiên cố, súng lớn súng bé gươm giáo đầy kho, dân, binh vô tận, rứa mà quan Tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ trong thành Thăng Long trước sự áp đảo của mấy ngàn tên giặc Pháp lang sa! Còn ở kinh đô ni, quan thân thần Tôn Thất Thuyết cùng với hai con trai “cõng” Đức vua Hàm Nghi chạy trong đêm qua cửa Quảng Đức bỏ lại cả kinh thành vàng son lộng lẫy!
Phó Tràng và cậu bé Nguyễn Sinh Côn lại chìm vào yên lặng. Tiếng bào ăn gỗ ngọt xớt gí miết vào óc Côn gây rờn rợn! Côn liền hỏi chuyện chú phó Tràng, tránh cảm giác ghê ghê ấy.
- Có phải toàn kinh thành những mười cửa lớn hả chú?
- Ừ. Cháu đã nhớ đủ tên cả mười cửa thành chưa?
- Dạ chưa, chú ạ.
- Chú kể lần lượt từng cửa cho cháu nhớ nghe.
Côn dừng tay trên bản khắc đã nổi rõ hai con rồng chầu mặt trời. Đôi mắt Côn cháy sáng ẩn hiện những hình ảnh kinh thành chồng lớp với bao hình ảnh làng quê, sông núi mà Côn đã đi qua. Giọng phó Tràng trầm trầm, thủ thỉ:
- Chú nhớ tên cửa mô là kể ra liền nỏ theo thứ tự như các quan chép sử, nghe cháu…Thứ nhất là cửa Chính Nam, thường gọi là cửa Nhà Đồ, bởi ở đây có cái kho chứa của tên chủ là Đồ Gio. Thứ nhì là là cửa Tây Nam. Thứ ba là cửa là cửa Chính Bắc, quen gọi là cửa Hậu, nó nằm ở đằng sau kinh thành mà cháu. Thứ tư là cửa tây Bắc, lại cũng có tên là cửa An Hòa vì thuộc địa phần làng An Hòa cháu ạ. Thứ năm là cửa Chính tây, thứ sáu là cửa Quảng Đức. Cái cửa ni có tích hồi kinh đô thất thủ, cha con quan thân thần đưa vua Hàm Nghi, bà mẹ Tự Đức, hai bà vợ Tự Đức và các quần thần chạy loạn qua đây. Thứ bảy là cửa Thế Nhân. Vua từ Hoàng Thành ra ngự lãm sông Hương đi qua cửa ni, có các bức tường ngăn che kín bít. Cho nên dân ta gọi là cửa Ngăn. Thứ tám là cửa Đông Nam, quen gọi cửa Thượng Tứ. Nơi đây có lính kỵ binh đóng. Gọi là viện Thượng tứ và Mã Khái (tàu ngựa). Thứ chín là cửa Chính Đông, cửa chú cháu mình ra vô thường xuyên đó. Gọi là cửa Đông Ba đó cháu.
- Gọi theo tên làng Đông Ba phải không chú?
- Phải rồi. Chợ Đông Ba vừa dời ra ngoài phía bờ sông Hương cũng là tên làng Đông Ba cháu ạ. Còn thứ mười là cửa Đông Bắc. Cũng vì có chợ Trài ở đó nên gọi là cửa Trài.
Niềm hớn hở hiện rõ trên gương mặt Côn:
- Cháu tạ ơn chú!
- Cháu nói chi lạ rứa? – Chú phó Tràng chối từ. Côn vẫn một giọng chân thành:
- Cháu được gặp chú, lại được chú thương, cháu cứ mơ mơ như chuyện cổ tích đi gặp ông tiên ấy. Chẳng biết có ông tiên cho gậy thần ước gì được nấy không? Nhưng chú đã cho cháu biết được nhiều chuyện thích thú. Thích lắm chú ạ. Giờ cháu còn một ước ao nữa…nhưng…có lẽ khó…khó lòng có được.
- Cháu ao ước chi cứ việc nói đi. Sức chú cáng đáng nổi thì chú mô tiếc với cháu.
- Cháu chưa được nhìn tận mắt một cung điện trong Đại Nội coi có khác chi với dinh thự, nhà lầu, nhà hậu cung của đình làng không?
- Cha…a…tưởng chi chứ vô Đại Nội một chuyến thì cũng nỏ có khó lắm cháu ạ. Cháu về xin phép cha mẹ cháu trước nghe. Tới đây, mấy hôm nữa thôi chú vô Đại Nội tu sửa một cung điện trong tận Tử Cấm Thành. Chú sẽ dẫn cháu cùng vô để “náo động hoàng cung” một chuyến.
- Vậy hả chú! Vậy hả chú! Chú để cho cháu cùng vào Đại Nội hả…chú!...Côn vui thích nhảy lên cả đống gỗ ngổn ngang. Chú phó Tràng giữ mãi nụ cười trên môi lấp ló sau vành râu xanh cắt ngắn bằng thín.
PHẦN 17
Từ ngày có mang, bà cử Sắc thường đau yếu luon. Côn làm thay mẹ mọi việc trong nhà. Tuy ở tuổi ăn tuổi chơi, tuổi ngủ nhưng Côn Thương mẹ, tự lo liệu, tối học tới khuya, sáng đã dậy lúc còn chạng vạng, nhìn chưa tỏ mặt. Việc đầu tiên, Côn nhóm bếp đun nước ấm cho mẹ rửa mặt, hãm một ấm con nước vỏ thạch lựu khô với nhúm muối để hai mẹ con súc miệng sạch và bền chân răng. Nhóm xong bếp, Côn quét nhà quét sân. Trong lúc mẹ rửa mặt, Côn rửa ấm chén. Xong công việc dọn dẹp trong nhà. Côn múc nước tưới cây ngoài vườn. Côn đã chú ý cách chăm bón cây của cha, Côn làm theo, pha hai phần nước lã với một phần nước tiểu mới tưới vào gốc cây. Lúc tưới nước mắt Côn cũng chăm chú khắp cành lá để bắt sâu cho cây nữa. Mảnh vườn sát nhà bếp, chỉ bằng ba bốn cái chiếu mà đủ thứ vừa cây thuốc, vừa là rau thơm gia vị: tía tô, kinh giớ, lá hẹ, lộc ớt, húng quế, húng láng, gừng, nghệ, sả, tỏi, hành hoa, hành tăm, mã đề, sương sông…Mảnh vườn rau này Côn tưới bằng nước vo gạo, nước rửa bát sau bữa cơm. Ban sáng Côn thường nhổ cỏ, xới đất vun gốc cho rau. Sau khi xong các công việc giờ đầu, Côn thường đứng trong vườn nhà nhìn ánh mặt trời dâng trên cửa Đông Ba dát vàng lên khắp thành Nội u mờ. Gió mới từ ngoài cửa sông đem theo những âm thanh tất bật vào Vương thành tịnh mạc thâm cung. Ngắm hạt sương tan lấp lánh trước ánh nắng ban mai trên ngọn cây xanh xanh, tâm hồn Côn tỏa rộng như lúc đứng trên đỉnh non cao qua đèo Ngang nhìn ra đại dương mênh mông!
Từ mấy hôm trước Côn đã được mẹ vui lòng cho đi vào Đại Nội với chú Phó Tràng, Côn cơm nước dọn dẹp xong, khoác chiếc áo dài đen, phủ gần kín hai ống quần vải thô bố. Búi tóc mới bằng nắm tay, Côn vấn khăn nhiễu quanh đầu to như cái vành rế. Bà cử Sắc ngồi trong giường ngắm con khen:
- Ra dáng của một nho sinh đất “Thần kinh” rồi con ạ.
- Thôi chết! Con đã mất gốc hả mẹ?
- Mẹ khen con thanh nhã của người kinh đô, chứ hạng mất gốc là người bỏ đi con ạ.
- Ngày chúng con sắp đi trẩy kinh với cha mẹ, bà ngoại nằm chẳng ngủ mấy. bà ôm con trong vòng tay, dặn dò bao nhiêu là chuyện…Bà dặn…dặn đi dặn lại cái câu “giấy rách phải giữ lấy lề, nón rách thì giữ lấy mê đội đầu”. Bà nói…nói…như lời hẹn: “Về Kinh đô, đất phồn hoa cháu học điều hay, cái đẹp, chớ đua đòi ăn chơi mà hư hỏng con người. Đi đến nơi mô cháu cũng giữ lấy nếp nhà cháu ạ.” Bà đã dặn con thế dó. Mẹ có thấy con đã làm việc chi sai với lời bà dặn, mẹ nói để con sửa.
Bà cử Sắc cười tươi, sự mệt mỏi thoáng tan biến khỏi gương mặt phúc hậu của bà. Bà nói vui vẻ:
- Giỏ nhà ai quai nhà ấy. Bà thương cháu, lo xa cho các cháu mà dặn dò các con những điều ấy. Chứ các con là phải giống cha giống mẹ, lại được cha các con cặp rèn, tôi luyện kỹ lưỡng thì hư hỏng răng được?
Côn chạy ùa đến giường mẹ, ôm lấy cổ mẹ lắc nhè nhẹ:
- Mẹ vừa nói “cặp rèn, tôi luyện” giờ thì con hiểu, hiểu thực sự, hiểu có gốc có nguồn của nó mẹ ạ.
- Con…con nói mẹ chưa hiểu rõ chi cả?
- Con thường được nghe cha mẹ nói “cặp rèn tôi luyện”. Con cũng có hiểu mang máng ý nghĩa những lời ấy là dạy dỗ, chăm sóc. Tôi luyện là tập chịu đựng với các sự khổ cực, sự khó khăn hàng ngày để lúc gặp khó khăn mấy, khổ mấy cũng không sờn lòng.
- Con hiểu được rứa là khá lắm rồi. Con còn hiểu nghĩa gốc của “cặp rèn”, “tôi luyện” là răng nữa?
- Lần này con đi qua lò rèn ở cửa chợ luôn, con không để ý công việc của bác thợ rèn. Vừa rồi con đến tận bễ thụt, con xin được kéo bễ. Bác thợ già quý con lắm. Bác cho con đứng kéo bễ mẹ ạ. Lúc đầu kéo chưa quen con thụt tro bay mù mịt, mọi người cười ồ. Bác ấy cầm bàn tay con tập cho con kéo lên, ấn xuống đều đều. Một lúc con quen chừng tay thụt rất đều gió, than trong lò đỏ rực lên. Được bác thợ già và các anh thợ phụ khen con chóng biết việc. Trong khi thụt bễ, con để ý thấy bác thợ cầm cái kìm to gần bằng cổ tay con – Côn kéo ống áo, giơ cao cánh tay làm mẫu với mẹ - Bác ấy cặp thỏi sắt đang nung đỏ trong lò đưa ra đặt lên đe. Hai anh thợ trẻ vác búa nện xuống thỏi sắt đó, thỏi sắt bị búa bổ lún vào, bác thợ già cặp thỏi sắt trở qua trở lại cho tới lúc nguội cứng thì bác thợ tiếp tục cho vào lò nung đỏ lên nữa. Con hiểu ra ý nghĩa của sự cặp rèn, tôi luyện từ cái nghề lò rèn này, mẹ ạ.
Bà cử Sắc sửa lại vành khăn nhiễu cho con, mắt tràn trề niềm vui:
- Con của mẹ - Bà ngập ngừng. Con của mẹ được lắm. Con biết suy xét từng việc làm, từng lời nói như người lớn. Cha mẹ đỡ lo về con.
- Còn có các việc lạ nữa con chưa hiểu mẹ ạ.
Bà cử Sắc thấy trong đôi mắt con lấp lánh sự ngạc nhiên và bí ẩn. Bà vẫn dịu dàng:
- Con nói đi. Chú phó Tràng giờ ni mới xong việc nhà, phải ăn tàn miếng trầu nữa chú ấy mới sang tới đây.
Mắt Côn để ra ngỏ, miệng vẫn nói với mẹ:
- Con để ý thấy mấy ông Tây làm cầu qua sông Hương không ác bằng cái đám Tây ở trong tòa Khâm, hay Tây đi đuổi bắt người mình ngoài chợ. Những người mình cùng làm cầu với Tây đều gọi họ là “quan đối công”, “quan kỹ sư kiều lộ”…Họ chở về bến những cây sắt to, dài như những cây gỗ lim, đen thui thủi. Lại có cả những cây sắt có rãnh như lòng máng xối ấy nữa. Con hỏi người đứng gần đó, mới biết các thứ sắt, máy hàn đưa từ bên Tây sang đó. Họ bảo vật liệu của Tây, kỹ thuật xây cầu vừa là người Tây vừa có người ta làm phụ nữa. Khi làm xong sẽ đặt tên Đức vua Thành Thái cho cái cầu. Chắc bên Tây họ có loại lò rèn phải to lắm thì mới tôi luyện cặp rèn dược những cây sắt to như cột nhà ấy chứ mẹ!
- Ừ! Bà cử Sắc “ừ” với con nhưng còn lúng túng chưa nghĩ ra câu giải đáp cho con thì tiếng chú phó Tràng đã oang oang từ ngoài ngõ vào:
- Răng! Cậu Côn đã khăn áo chỉnh tề chưa?
- Ồ! Chú đã đến – Côn chạy ra cửa, đôn đả - mời chú vô nhà đã.
Phó Tràng được bà cử Sắc mời ngồi vào cái ghế đẩu đặt cạnh giường. Bà dặn dò phó Tràng cẩn thận việc dẫn Côn vào Đại Nội. Thầy cử Sắc vắng nhà bà cho con vào cái nơi “cửu trùng” cái chính là bà thấy khó hiểu, khó tường…rồi sẽ ra sao? Bà nói thận trọng:
- Tôi tin chú. Tôi cũng tin ở cháu Côn nữa. Nỏ phải tôi chiều con mô. Nó ham học, ham tìm tòi để biết. Được chú dẫn dắt cháu, cái bụng tôi yên. Bụng yên mà đầu vẫn thấp thỏm chú ạ.
- Nỏ hề chi, hề chi mô bác. Chỉ có bổ ích, cậu Côn vô Đại Nội với tui sẽ bổ ích, sẽ lý thú. Xin bác ở nhà yên cả tâm, yên cả trí cho. Phó Tràng nhìn bóng nắng. Tiếng trống xa xa vọng đến chao đưa trong nắng dìu dịu. Phó Tràng giục: - Nào ta đi cháu, Tam Tòa nổi trống rồi đó!
Côn chào mẹ rồi đứng dậy cùng đi với phó Tràng. Con mèo chạy theo Côn, kêu meo meo. Côn khoát tay, con mèo đứng lại liền. Chú phó Tràng ngắm Côn không chớp mắt:
- Hà hà…Cháu thắng bộ ni vô triều, đám thị vệ sẽ nhận lầm đó nghe.
- Lầm gì ở cháu, thưa chú?
- Họ sẽ tưởng là một hoàng tử.
- Hoàng tử mặc gấm vóc, lụa là. Cháu mặc thứ vải thô mộc này, họ chẳng lầm đâu chú ạ.
- Cháu tuy mới chín tuổi nhưng đã có phong thái mà đứng vào đám nho sinh cũng hợp, đám trẻ ngoài phố, ở làng quê đều hòa vô được. Nay cháu vô Đại Nội dù cháu mặc đồ thô mộc thì gương mặt tuấn tú của cháu lại hòa vào cái cảnh trí cung đình.
Côn đang bước hăng hái bỗng uể oải:
- Nếu…nếu cháu đều giống mọi người như chú nhận xét thì cháu chẳng còn cái gì là của cháu nữa. Quả vậy thì đáng buồn cho cháu
- Cháu đã suy xét khác với chú. Chú nói cháu có một phong thái đặc biệt hòa với mọi lớp người mà vẫn không lẫn.
- Hòa….mà….không lẫn! – Côn nhẩm lại từng tiếng. Phó Tràng giải thích thêm ý nghĩa của mình:
- Chú nói với cháu về sự “hòa” là xét về cái bên trong, cái cốt cách của con người. Hòa không đồng nghĩa với “giống”, với “như”. Giống và như chỉ là sự so sánh phần bề ngoài, tức là hình thức. Tạo ra hình thức không khó, còn tạo ra một cốt cách, một bản sắc tâm hồn, một nhân cách là phải tôi luyện, nung rèn từ nhỏ và cũng phải được sự thiên phú cho nữa. Giá dụ cháu mượn bộ đồ sang mặc vào để đóng giả hoàng tử thì có khó chi? Ai cũng làm được. Mà hoàng tử chẳng qua là con vua thì được hưởng cái thứ sẵn có chứ tài cán đã chắc chi! Khối ông hoàng, bà chúa dốt đặc cán mai, ăn nói dùi đục chấm nước mắm, xấu xí như con cú mèo.
- Cha cháu rất ghét những người học trò mà chú trọng về đường ăn mặc trau chuốt! “Sĩ chí ư đạo, nhi ác y ác thực, vi túc dữ nghị dã”
- Cháu diễn nôm câu đó chớ chú chỉ hiểu lõm bõm thôi…
- Dạ, cháu hiểu nông cạn là, người học trò lập chí theo đạo mà lại chú trọng sự trau chuốt ăn mặc là lập chí sai, không thể làm nên được.
- Gần đến cửa Tam Tòa cũng như lúc đi vô trong Hoàng thành cháu đi tự nhiên như đã ra vô quen thuộc rồi. Trong Hoàng thành có nhiều thứ lạ mắt, dù lộng lẫy đến đâu cháu cũng chỉ thu chúng vô mắt mình mà không để lộ cử chỉ ngạc nhiên, choáng ngợp. Chú sẽ đi chậm, rất chậm lúc qua các cung điện, các phong cảnh để cháu nhìn rõ. Vô nơi chú làm việc, chú sẽ nói nhỏ với mấy ông thị vệ dẫn cháu đến xem những chỗ cháu thích.
- Cháu cố gắng giữ mình trước những thứ đẹp, những thứ lạ chú ạ.
- Chú biết dặn các điều ấy với cháu là thừa nhưng chú làm theo bổn phận cháu ạ.
- Nếu đang đi mà gặp vua ra, cháu có phải nhắm mắt không thưa chú?
- Hề…hề. Mần chi còn có cái tục lệ ấy nữa cháu.
- Cháu hỏi chú để biết, chứ còn cái lệ dân phải quì xuống đất, nhắm mắt cúi đầu vái vua thì cháu cũng chẳng làm theo. Nghĩa chữ trung quân khong phải ở cái thứ thấp hèn ấy. Cha cháu bắt anh em cháu phải thuộc: “Sỹ quân tử vi hóa tục chi nhân bất vi tục sở hóa”
- Chú hiểu cháu và càng nhớ câu sách của cha cháu giảng cho học trò: “Thiên chi sinh dân phi vị quân dã” - Trời sinh ra dân không phải vì vua.
Hai chú cháu trở nên im lặng. Phó Tràng đưa cho Côn vác cái rìu trông ra dáng cậu bé đi học nghề mộc. Ba tòa nhà của Tam Tòa đã sừng sững trước mặt. Côn hỏi phó Tràng:
- Chú ơi, câu “Đưa con vô Nội mất con, phò mã tốt áo chẳng còn tốt tri” nghĩa là sao hả chú?
- Là… là các cô gái đẹp được tuyển vào hàng cung phi thì chẳng bao giờ còn có ngày trở về thăm cha mẹ nữa. Và các chàng nho sĩ mà lấy con gái của vua thì cũng mất hết các bạn cũ, cháu ạ.
Dừng lại trước cửa Tam Tòa, Côn vẻ lơ đãng không chú ý gì chung quanh lắm. Phó Tràng đã đưa tấm thẻ “nhập Nội” của bộ Công cấp từ hôm trước cho chú lính gác cửa. Phó Tràng và Côn được mời vào phòng đợi. Lát sau có một ông thị vệ ra đón hai người vào, nhưng ông thị vệ ngờ ngợ hỏi:
- Cậu ni còn bé mà đã biết cầm đồ nghề vô nơi cung khuyết à?
- Chú thị ơi, cậu nho đây là thầy học của tui đó nha.
Tay thị vệ trừng mắt, hai chòm râu cá trê hai bên mép giật giật:
- Ủa! Thầy…học…của ông phó kia hỉ?
Côn nhìn với một nụ cười tươi tắn khiến chú thị vệ tỏ ra thái độ kính nể:
- Xing (xin) mời cậu nho và ông phó vô Nội ạ.
Người thị vệ đi trước, Côn bước sải dài, chững chạc vẻ mặt thản nhiên đi sóng đôi với chú phóa Tràng, nhưng Côn vẫn đưa mắt chớp lấy các cảnh vật cung thành và lắng nghe những lời thì thầm của chú phó Tràng. Mặt đường mịn mỡ lớp lớp bóng cây thuê dệt, ánh nắng phết vàng như gấm hoa trải dài xa tít. Những đám mây trắng xốp vương nóc Hoàng cung. Mắt Côn phát ra những tia sáng nhiều màu. Côn cảm thấy mắt mình không còn là của mình nữa, mọi cảnh vật không còn như thật nữa! Cửa Ngọ Môn hay lầu vàng của vua Thủy Tề mà chàng Thạch Sanh đã đến! Ánh sắc của ngói hoàng lưu ly, thanh lưu ly, cửa sơn son thiếp vàng trên các mái lầu, mái điện nhấp nhánh trong nắng mơ màng. Con phượng đỏ, con uyên vàng, con hộc trắng, con loan xanh, con nhạn thốc tía, năm con chim phượng như đang rũ cánh kêu than sắc phai màu nhạt trên vương thành quốc điện! Tiếng gió va vào thành khỏa tràn mái điện, đổ dài trên hàng cây bật lên những âm thanh tha thiết kêu gọi con người phải xóa bỏ bất công, chim phượng hoàng sẽ trao cho mỗi người một túi vàng để xây dựng cuộc sống ấm no như người ngày xửa ngày xưa của truyện cổ tích.
- Sắp lên cầu Trung Đạo, cháu chú ý xem hồ sen Thái Dịch, nghe cháu!
Phó Tràng nói thầm sát bên tai mà không có tiếng Côn đáp lại! Phó Tràng liếc chéo sang thấy mắt Côn lấp lánh ánh lửa, một thứ lửa từ trái tim thơ ngây phát sáng nâng mãnh hồn xanh bay lên trên cái thực tại vàng son đang tàn lụi. Phó Tràng bấm nhẹ vào tay Côn. Côn dứt mạch suy niệm nhìn bằng một nụ cười đáp lại cử chỉ của chú phó Tràng. Côn đi rất chậm. Phó Tràng vượt lên trước kiếm cớ hỏi chuyện chú thị vệ để giữ chân đợi Côn. Côn thoáng nhìn cầu bắc bằng những phiến đá dài, có bao lơn, có cửa phượng môn ở hia bên đầu cầu, bốn cây trụ đồng chặm những áng phù văn quấn quanh, lại trang sức bằng pháp lan ngũ sắc. Mắt Côn in nhận ngay bốn chữ ở mặt ngoài của Phượng Môn phía nam: Chính Trực Đăng Bình, mặt trong: Cư Nhân Do Nghi. Cửa phái bắc, mặt ngoài: Cao Minh Du Cửu, mặt trong: Trung Hòa Vì Dục. Từ trên cầu Trung Đạo nhìn được bao quát mặt hồ Thái Dịch. Ánh vàng của Hoàng cung, vàng của nắng dát xuống mặt hồ một sắc màu huyền ảo và những bông sen đầu mùa được tắm vàng trong nước hồ vàng. Côn bồi hồi nhớ tiếng hát của mẹ bên khung cửi:
“Anh về với mẹ làng Sen
Để câu ví dặm cho em bàng hoàng
Kim Liên tiên tắm ao vàng
Yêu em anh hái sen vàng trao em”
Côn lại bị cắt dòng suy niệm:
- Mời cậu nho đi mau qua sân rồng cho.
Côn đáp lại với chú thị vệ như người đã quen thuộc:
- Đa tạ chú. Cháu biết rồi. Côn bước theo chân chú phó Tràng và chú lính thị vệ men theo đường Dũng Đạo. Mặt sân rồng trải rộng trước điện Thái Hòa mà mắt Côn ước lượng to gấp cả chục ngôi đình, còn bên trong cung điện Côn chưa hình dung nổi! và bên tai Côn tháp thoáng tiếng phó Tràng chỉ vẽ….Bên tả điện Thái Hòa là tòa Thái Miếu….bên hữu là Thế Miếu,….xa xa kia là Triệu Miếu….ở bắc Thế Miếu là hưng Miếu….bắc Hưng Miếu là điện Phụng Tiên…bắc Phụng Tiên là cung Diên Thọ....bắc Diên Thọ là cung Trường Sinh...
Lúc đi qua Tử Cấm Thành, Côn bâng khuâng như bị lạc vào một thế giớ ở ngoài thế gian của loài người đang cư trú. Côn thầm hỏi: Vua ở thế này làm sao biết được ở ngoài dân chúng đang có hàng ức hàng triệu người đói khác? Vua làm sao mà thấy được thây người chết đói, chết rét, chết bệnh ở các đàu đường xó chợ, bờ ruộng, bến sông…?
Phó Tràng lại khẽ nhắc bên tai Côn: - Điện Cần Chánh đó cháu. Vua ở trong, cháu ạ. Để tiện cho việc phụng dưỡng vua, có điện Quang Minh kia. Có Duyệt Thị Đường, nhà hát dành cho Vua xem đó. Cháu nhìn chếch sang phái đông đó là nhà Thượng Thiên, nhà nấu ăn cho vua, phía ta đang đi đến, hai cái tòa trước mặt, đó là Viện Thái y và nhà thị vệ trực phòng. Chú cháu mình sẽ vô cái nớ, nhà thị vệ trực phòng gặp các quan hầu hạ vua.
Chú lính vệ dẫn phó Tràng và Côn vào phòng đợi. Một lúc sau quan thái giám ra tiếp hai người thợ mộc, ông ngạc nhiên nhìn “chàng” thợ mộc áo dài khăn nhiễu mà còn bụ sữa! Côn chào lễ phép, tư thái đàng hoàng như một người mà người đời thường gọi là trượng phu khiến viên thái giám hơi bỡ ngỡ khó xử. Nhận ra cử chỉ ấy của viên thái giám, phó Tràng liền nói:
- Bẩm quan lớn. Theo lệnh của bộ Công triệu, tui vô dỡ bỏ một số lầu trong điện Minh Thuận, tu sửa một số cung thất. Vì tui ít chữ nên tui rước thầy học của tui vô để giúp các bức hoành trong điện, bức mô triệt giải, bức mô để lại mà đức vua đã hạ chỉ ạ.
Viên quan thái giám vẻ mặt sửng sốt thấm thấm mắt vào ống tay áo mấy lần, lại nheo mắt nhìn từ đầu xuống chân Côn, ông vội nói giọng Thanh Hóa pha Huế:
- Khi nãy bầy tui (tôi) lầm, ngỡ môộc (một) cậu thiếu niêng (niên). Ngờ mô (đâu) thầy….thầy lùng (lùn). Thầy vừa lùng lợi (lại) trẻ măng như một em bé lêng (lên) mười rứa.
Côn cố nén cười và giữ vẻ mặt tươi tắn:
- Thưa quan thái giám, cháu thiếu vài tháng nữa là mười tuổi ạ.
- Mư…ời…tuội…sắp mười tuổi mà đã dạy chữ Thánh hiền à?
- Dạ thưa quan lớn, cháu mới học được bốn, năm chữ nhì nhằng thôi ạ.
- Với…bốn….năm chữ sao dám làm thầy dạy học cho ông phó mộc nổi tiếng cả đất Thần kinh ni?
- Dạ thưa cụ, cháu mới ngần nầy tuổi thì cũng chỉ mới với tới các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh…dạ thưa quan, cháu cố gắng lắm rồi ạ.
- Ô ô ớ! Tẹ (té) ra cậu nho nói học được “bốn”, “năm” chữ là nói bóng về sách Tứ Thư, Ngũ Kinh! Cha….mẹ…ơi! Cậu là con trời thì phải hơn!
- Thưa cụ, có chú phó Tràng biết, cháu là con một nhà nho thanh bách, cháu không phải là con trời ạ.
- Nhà nho có ba bảy thứ nhà nho cậu ạ. Chân nho, túc nho, lại có hạng ngụy nho, cẩu nho. Cậu chắc chắng (chắn) coong (con) nhà túc nho rồi. Ông nhìn xuống khay trà, giọng ân cần:
- Xin mời cậu nho và ông phó dùng trà để rồi sang điện Minh Thuận ạ.
Đứng trong điện Minh Thuận, Côn thấy mát rượi hơn cả lúc trưa hè ỏ trong tòa đại đình của làng Dương Nỗ. Quan chấp chưởng bàn định với phó Tràng việc sửa chữa lầu Nhật Thành, phá gác Tứ Phương Vô Sự, lầu Tự Cường….Quan thái giám không rời Côn bước nào. Ông chỉ cho Côn biết thêm xung quanh khu vực điện Càn Thanh còn có viện Thuận Huy (giữa Càn Thanh và điện Cao Minh Trung Chính) là nơi các bà phi ở. Chung quanh viện Thuận Huy còn có viện Đoan Hòa, Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Trang, Đoan Tường để vợ các ông quan hàng tứ phẩm ở, gọi là Tứ phẩm mệnh phụ.
Tuy đã phục Nguyễn Sinh Côn đọc làu làu các chữ trên các bức hoàng phi, quan thái giám còn muốn thử tài thêm:
- Thưa cậu, cậu là thần đồng, tôi muốn được nhận lãnh một kiên giải của cậu về việc Đức vua Thành Thái hạ chỉ triệt phá những cái lầu đẹp ở trong điện Minh Thuận ni?
- Dạ cháu không dám! Thưa quan thái giám, cháu không phải thần đồng ạ. Côn đưa mắt quan sát khắp lượt, thưa quan thái giám ạ - Côn từ tốn, e ngại nói: - Cháu…cháu còn thơ dại…Đức vua hạ chỉ phá lầu cũ xây điện mới là việc hệ trọng, là đại sự, cháu là hàng con trẻ…Thưa quan thái giám, lịch sử ngàn năm chỉ mới thấy có một Trần Quốc Toản ở Bình Than! Và mười năm trước đây có quan thân thần Tôn Thất Thuyết trao gươm báu hộ giá vua cho con trai thứ đang tuổi đánh khăng đánh đáo.
Quan thái giám càng sửng sốt:
- Tức hổng còn nghi ngờ gì nữa! Cậu là một thần đồng! Thần đồng thiệt. Giấu chi tui, tui cũng có phần muốn thử tài của cậu, phần nữa tui đương bí về việc ni. Hôm Đức vua ở lầu Dưỡng tâm có ban cho hàng thái giám trong vòng năm ngày, ai nói gần đúng với ý đồ của Kim thượng hạ chỉ phá lầu Tứ Phương Vô Sự thì được thưởng.
- Bẩm quan thái giám, quan đã nói ra cái điều thầm kín ấy, cháu hết cả ngại ngùng. Cháu mạn phép quan lớn được nói ra sự suy nghĩ nông cạn của cháu. Nếu cháu nói sai xin quan dạy bảo cháu.
- Cậu ý tứ kỹ lưỡng lắm.
- Theo chữ đề trên danh bảng kia thì lầu “Tứ Phương Vô Sự” được xây cất từ năm Triệu Trị nguyên niên. Cháu được học và được nghe cha giảng sách, kể chuyện thì thời ấy nước Nam ta cảnh thanh bình. Vua thường ra lầu Tứ Phương Vô Sự, coi còn tạm được. Ngày nay, nước Nam ta tứ phương loạn lạc, Tổ quốc trầm luận, có thể vì lẽ ấy mà Đức vua Thành Thái cho triệt giải lầu Tứ Phương Vô Sự chăng?
Quan thái giám liền xoa xoa hai bàn tay, cổ hơi rụt vào:
- Thiệt lạ! Thiệt lạ! Mới chín, mười tuổi mà đầu óc cậu đã nghĩ ra được việc lớn mà người lớn có khi nghĩ chưa tới?
- Dạ, cháu còn thơ dại ạ. Cháu được nghe cha cháu kể về chú đầu xứ San năm lên mười tuổi nghe tin Phú lang sa đánh chiếm Bắc Kỳ, chú San liền viết hịch: Bình Tây Thu Bắc và lập Đội nhi đồng cứu quốc vong trong làng để đi dẹp giặc ạ.
Quan thái giám lại rụt cổ, trố mắt nhìn chú phó Tràng, nhìn Côn nói:
- Thưa cậu, cậu cho biếc (biết) quí danh?
- Thưa quan thái giám, cháu là Nguyễn Sinh Côn ạ.
- Ớ ớ…! Chiếc (chết) thiệt! Từ mơi (mai) chừ tui quên việc hỏi quí danh. Thì ra cậu là quý tử của thầy cử Nguyễn Sinh Sắc!
- Dạ…quan thái giám cũng có biết cha cháu?
- Tui chưa được yết kiến thầy cử, nhưng danh tiếng của thầy thấu tới hàng tai mắt ở trong vương triều ni. Và…và…tui cũng nghe được lõm bõm thầy cử Sắc có người con trai thứ sáng dạ như trăng sao. Chính quan Thượng thư Đào Tấn, lại cả cụ Thượng Cao, cụ Hường Ích nữa, thường nói chuyện với các quan về văn đạo của thầy cử sắc tại tả vu trong các buổi đợi vô chầu thánh thượng.
- Thưa quan thái giám, có lẽ phụ thân cháu không biết gì về chuyện này đâu ạ.
- Cậu nghĩ coi. Mô phải bỗng dưng các ông hàng Vương, hàng Miên, hàng Đại thần xing (xin) cho coong (con) được nhập môn thầy cử Sắc? Trong vương triều ni hầu như ai cũng e ngại ông Nguyễn Thân cậy thần ỷ thế. Rứa mà thầy cử Sắc không nhậng (nhận) dạy cho coong (con) của Nguyễn Thân. Nhiều người ngạc nhiên và thán phục thầy cử Sắc lắm.
- Dạ thưa quan thái giám, cháu có được đứng hầu cha tiếp ông Thân đến nhà xin cho con học ạ. Theo thường lệ, mỗi lần khách đến, cháu được cha cho hầu trà, hầu rượu. Bữa ông Thân đến, cháu chưa rõ vị khách lạ này nên cháu vội đi quạt nước pha trà. Cha cháu nghiêm sắc mặt, cháu biết ý liền dừng lại. Cha cháu cũng chẳng mời ông ấy ngồi vào ghế. Cha cháu đứng tiếp ông ta giữa gian nhà học. Cha cháu từ chối, chỉ cho ông ta thấy nhà không còn chỗ nào để đón nhận thêm học trò. Ông ta lại mời cha cháu về dinh ông ta, vừa dạy học vừa theo dõi chữa cho ông ta khỏi được cái bệnh đái dắt sẽ hậu tạ lớn. Ông ta sẽ dành cho một nơi rộng rãi, yên tĩnh, có phong cảnh ngoạn mục…Cha cháu đa tạ ông ta. Sau đó cha cháu nói với ông ta là không quen giảng sách ở nơi lầu cao cửa rộng. Còn việc chữa bệnh thì cha cháu cũng từ chối nốt. Rồi cha cháu giảng cho cả lớp học bốn câu thơ:
Vô dược khả y khanh tướng bệnh
Hữu tâm nam đối quỷ thần tri
Thế gian duy hữu danh phương tại
Phú quý phù vân bổn tự khí.
Thưa quan, ông Nguyễn Thân cũng rốn ngồi lại cùng nghe đã tím mặt lại, đe dọa cha cháu: “Thầy thóa mạ hàng đại thần, thầy sẽ gánh lấy hậu quả”. Cha cháu đã thưa với ông ta rằng, bốn câu thơ ấy đâu phải là của tôi mà là của “ông già lười” Lê Hữu Trác, đệ nhất danh y của nước Nam ta đó. Chính ngài đã kéo binh mã giày xéo trên mộ “ông già lười” dưới chân núi Hồng Lĩnh và đào mộ cụ Đình nguyên Phân Đình Phùng, lẽ nào ngài lại không biết bốn câu thơ ấy của ai?
Quan thái giám đứng ngây người! Chú phó Tràng chăm chú làm việc với quan chấp chưởng, ông nghe rõ cuộc đối thoại của Côn với quan thái giám nhưng vờ chẳng hay biết gì.
Quan chấp chưởng rất muốn sang dự chuyện với cậu nho sinh tí hon và quan thái giám, nhưng vì đang dở công việc với phó Tràng.
Sau một giây lát sững sờ, quan thái giám sai lính lấy giấy, bút nghiên.
Ông nói:
- Thiệt là duyên tri ngộ. Tiện một dịp may hiếm có hi, tui xin cậu một nét bút thần làm kỷ niệm.
- Bẩm quan, vì sự kính nể quan mà từ sáng tới giờ cháu e đã phạm phải điều “khoe chữ” trái đạo gia huấn của gia đình cháu. Giờ cháu mà viết đại tự để lại làm kỷ niệm cho quan thái giám…thưa…thưa…thưa quan, cháu chưa kịp xin phép cha mẹ cháu ạ!
Quan thái giám vẻ mặt băn khoăn. Lính thị vệ đã đem giấy bút nghiên đặt lên án thư. Phó Tràng từ gian phòng bên cạnh bước vội đến, quan chấp chưởng cũng đến theo. Phó Tràng giọng trịnh trọng:
- Cậu nho đi đến nơi mô cũng trọng giữ nếp nhà. Cậu đã nêu một tấm gương sáng cho cả cánh người lớn chúng tôi nữa. Còn quan thái giám đây thật sự yêu vì nết, trọng vì tài của cậu. Xin cậu bình tâm kính tạ lại tấm thịnh tình của quan thái giám. Tui sẽ nhận lãnh phần việc về thưa lại với song thân cậu.
Nguyễn Sinh Côn nâng cây bút lông nhẹ nhàng, tờ hồng điều mở rộng. Tiếng chim như từng viên ngọc rơi xuống mái điện hoàng lưu ly và tan vào bầu trời thanh trong. Ai nấy đều có cái cảm giác cái gác Tứ Phương Vô Sự như con thuyền dập dềnh trên mặt hồ Quảng Văn. Côn múa múa bút. Ba chữ Ngô Thị Thùy như ba bông hoa nhung nở trên nền điều từ bàn tay non tơ năm búp lộc của Nguyễn Sinh Côn. Mắt mọi người hút vào chữ như con ong say mật trong hoa và ai cũng mỉm cười, thầm nghĩ – Cậu nho sinh tí hon Nguyễn Sinh Côn đã ghẹo quan thái giám rất thâm nho: Có đời thưở nào lại viết tặng ông quan hoạn tên người con gái vu vơ nào đó! Trái lại, quan thái giám thì cảm động ứa nước mắt, xuýt xoa:
- Đa tạ cậu! Thần linh đã khiến xui nen cậu đã biết được họ tên của bà nhà tui: Ngô Thị Thùy! – Mọi người lại bàng hoàng sửng sốt nhìn Côn! Phó Tràng cũng chảng kém phần kinh ngạc! Quan thái giám nói qua hơi thở, bùi ngùi – Ôi! Bà nhà tui đã khuất núi. Tui mới nguôi nguôi được mấy năm nay. Chữ cậu đã khơi thương nhớ lại cho tui! Khổ cho bà nhà tui chết sớm cũng vì quá buồn phiền cái việc tui phải diệt dục để vô Nội hầu thánh thượng. Cảm tạ cậu đã kỷ niệm tui treo ba chữ họ tên bà nhà tui, chữ của thần đồng. Tui sẽ treo trên bàn thờ bà nhà tui….
Côn nghe quan thí giám nói như than vãn, vừa thương cho thân phận người hoạn quan, vừa nhức nhối về cái sự ích kỷ đến độc ác vì vua có quá nhiều vợ bắt những người hậu cận của mình phải thiến đi! Côn không lấy nỗi đau của người khác để đùa cợt và không bao giờ vô lễ với người ở hàng ch chú của mình.
Côn nói:
- Thưa quan thái giám. Xin quan lượng thứ cho cháu. Thực tình cháu không biết quý danh của bà. Nếu biết, cháu đâu dám vô lễ. Hơn nữa bà đã qui tiên! Cháu viết tặng quan bà chữ Ngô Thị Thùy với cái nghĩa đơn giản là: Ngô là ta, Thị là là, Thùy là ai (ta là ai?). Suy rộng ra: Mỗi người ở trong trời đất này phải tự hỏi mình, tìm hiểu về mình, mình hiểu được mình thì sẽ tự đặt cho mình một trọng trách sẽ lựa chọn cho mình con đường tiến thủ hoặc ít ra biết cân nhắc cho mình việc làm ích nước, lợi nhà.
Phó Tràng thở phào nhự nhõm, quan thái giám, quan chấp chưởng và mọi người nhìn Côn đến nỗi Côn muốn chạy khỏi tầm mắt của họ. Đang ở nơi cung cấm, nếu ngoài thành
Nội thì Côn đã chạy đi chơi đánh đáo, đi bắt bướm, bắt chồn chuồn….
Viên chấp chưởng xòe hai bàn tay nhăn nheo ôm lấy hai cầu vai Côn, mắt ông lóe lên những ánh lửa lụi tàn, ông nói:
- Cậu Nguyễn Sinh Côn ơi. Đến lúc bạc đầu tôi mới nhận ra: Ai cũng có thể học chữ, nhớ được thiên pho vạn quyển sách. Nhưng không phải ai cũng có được chữ tài! Mà thiên bẩm là khởi thủy của thiên tài. Ba chữ: Ngô, Thị, Thùy đều là những chữ đầu lưỡi của mỗi người học trò từ lúc khai tâm. Vậy mà xưa nay tôi chưa thấy ai đặt ba chữ ấy thành một câu tự hỏi mình với ý nghĩa mà cậu vừa giải thích.
Ông thợ phó Tràng tay cầm chắc cái búa đứng nhìn, thấy cậu bé Côn như trội hẳn lên giữa đám người tại vương lầu Bốn Phương Vô Sự của triều Nguyễn. Phó Tràng tự hỏi thầm: “ Thiên địa xoay vần. Thế kỷ mười chín đang từ từ khép lại. Phải chăng, Nguyễn Sinh Côn là thế hệ được trao chìa kháo vàng mở cửa thế kỷ hai mươi ở đất nước này”
Quan thái giám nâng cao tờ giấy hồng điều lấp lánh ánh mực ba chữ Ngô Thị Thùy. Mắt ông thất vọng, ông nói to: TA LÀ AI?
PHẦN 18
Bà cử Sắc ốm đã mấy ngày không ăn uống gì. Khung cửi đã phủ một lớp bụi mỏng. Ông cử Sắc ở Dương nỗ về theo dõi chữa bệnh cho vợ. Bà cử ốm kỳ này trong trạng thái mang thai đã gần kỳ sinh nên ông cử rất lo. Bệnh bà cử đã gần khỏi, đã an thai, ông kê tiếp đơn thuốc để lại nhà rồi trở xuống Dương Nỗ.
Côn được cha tin cậy giao việc sắc thuốc, cháo lão cho mẹ. hàng ngày Côn ra phố, đến sứ thuốc bắc cân thuốc về cho mẹ. Làm đúng sự chỉ dẫn của cha: chẻ củi nhỏ, đun lửa cháy loi roi, không để ngọn lửa trùm lên ngang miệng siêu thuốc, dễ bị tràn mất nước cốt và chóng cạn, giảm phần dược tính. Sắc luôn một lúc ba nước, nước đầu đổ vào ba bát vừa nước lạnh, đun cạn hai bát, còn lại một bát. Nước thứ hai, đổ vào ba bát vừa nước lạnh, đun tiếp đến lúc còn mại một vừa. Nước thứ ba đỗ vào bốn bát vừa nước lạnh, tiếp tục đun cho tới lúc chỉ còn lại hai phần ba vừa. Mỗi lần cho mẹ uống thuốc, Côn hâm nóng lên và chiết ra bát một ít. Côn bưng bát thuốc đến mẹ, đợi mẹ uống xong, bao giờ Côn cũng để sẵn viên đường phèn trong đĩa, mời mẹ ngậm, đỡ đắng miệng. Bã thuốc Côn không đỗ ngay mà cho vào nồi đun làm nước cho mẹ rửa tay, rửa mặt. Những bã thuốc bổ Côn tích trữ lại phơi khô để tán thành bột, quấy vào nước cơm, cho thêm tí đường phèn hay đường cát cho mẹ uống.
Bà cử Sắc thấy con vất vả, tự phàn nàn:
- Mẹ ốm, mọi việc trong nhà, thuốc than, cháo lão cho mẹ đều chất lên đôi vai bé bỏng của con.
- Hì...hì…hì…mẹ… - Côn cười vui với mẹ - Mẹ lo con còn mãi chơi chứ. Con mà so với em bé Hán Lục Tích trong sách Nhị Thập tứ Hiếu thì chưa thấm tháp chi mẹ nhỉ.
Bà cử Sắc đáp lại một nụ cười với con. Bà cố ngồi dậy, tựa lưng vào vách, vấn lại tóc. Từ ngày ốm nặng, bà không vấn khăn, không ăn trầu, giờ đã thèm ăn trầu. Côn hiểu ý mẹ, lấy miếng cau khô ngâm vào nước mềm mềm rồi mới đưa cho mẹ miếng trầu đủ các gia vị vôi, rễ đắng, thuốc lào. Bà cử ăn trầu cảm thấy nhạt vôi:
- Con quệt cho mẹ thêm tí vôi nữa – Côn dùng ngón trỏ chấm vào miệng ông bình vôi treo ở vách. Bà cử nhắc liền:
- Chớ! Con chớ dùng ngón tay quệt miệng ông bình vôi. Có tội đó con. Phải dùng chìa mà lấy vôi chứ?
Côn chớp mắt ngơ ngác:
- Thật có thần bình vôi không mà phải kiêng cữ kỹ thế mẹ?
- Có hay nỏ có thần bình vôi, mẹ làm sao định rõ được hở con? Mẹ tin theo bà ngoại của con, mà mọi người đều tin như vậy con ạ.
- Con ngẫm nghĩ thấy ở mỗi nơi có một tục lệ hay hay mẹ ạ. Này nhá, ở quê ta ngày mồng một Tết con thấy bà ngoại đem bánh tét dán vào mỏ chày giã gạo, dán vào ông bình vôi, ông núc, kiềng, nong, nia, sành, dần, thúng, đòn gánh và cái cày, cái bừa, cho cả bà ăn các thứ bánh nữa. Ở kinh đô này thì lại cúng thần đất cũng bày biện bao nhiêu là thứ bánh và cho các đồ đạc trong nhà “ăn” như bà ngoại. Ngày ấy con còn bé quá, chưa biết hỏi bà coi chia phần quà bánh ngày Tết cho những thứ đồ đạc trong nhà ăn liệu có ích chi không?
Bà cử cười hiền từ:
- Mẹ nghĩ nông cạn là: Cả năm làm đầu tắt mặt tối. tết là dịp để sum họp mọi người thân trong nhà, trong họ, trong làng và cũng là để nghỉ ngơi, ăn uống ngon hơn thường ngày. Mọi người được ăn ngon, được vui chơi thì phải nhớ đến trâu, con bà và các đồ đạc, nông cụ đã cùng một nắng hai sương với con người làm ra của cải. Các thứ đó đều vô tri vô giác, nhưng con người phải biết nhớ đến những thứ nớ khi có miếng ăn, tức tự nhắc nhở mình đó con.
Côn nhìn lắng xuống, gật đầu nhè nhẹ hỏi mẹ:
- Ẩm thủy tư nguyên cũng có nghĩa như vậy phải không mẹ?
- Ừ! Câu thành ngữ: “Uống nước nhớ nguồn” chính là nhắc người ta sống phải có tình có nghĩa, trước sao sau vậy.
- Mẹ ơi! – Côn tươi tắn mĩm cười vẻ dí dõm – Sao chỉ có ông bình vôi mà không có bà bình vôi hả mẹ?
Bà cử tức cười và hơi lúng túng:
- Con hỏi thì mẹ chợt nghĩ là từ xửa từ xưa đã đặt để vậy, đã gọi vậy, mọi người cứ vậy mà theo, chẳng ai lục vấn cho rõ.
- Con thấy tôn thờ “ông” nhiều mà ít có “bà” mẹ ạ. Nào ông trời, ông thần nông, ông thổ công, ông bếp…mà buồn cười nữa mẹ ạ. Con thấy đến ngày 23 tháng chạp mọi nhà cúng ông bếp đều sắm mũ áo bằng giấy có khi còn sắm cả con cá chép giấy, nói là để ông bếp mặc đồ mới, cưỡi cá mang sớ về trời. Nhưng lại không ai sắm quần cho ông bếp cả, vì sao hả mẹ?
Bà cử lại phì cười.
Bỗng có tiếng gọi ngoài ngõ
- Cậu Côn ơi! Cậu Côn ơi…!
- Ai gọi nghe như….Bà cử lưỡng lự….Côn nhận ra tiếng bạn:
- Tiếng anh Quang mẹ ạ. Mà có cả tiếng cậu Tuấn, cậu Kỳ nữa.
Côn kê lại gối, đỡ mẹ nằm nghỉ. Côn chạy vội ra mở cửa ngỏ, Quang đẩy xe Xển Văn đã áp sát hàng dâm bụt. Diệp Văn Kỳ, Tôn Thất Tuấn đứng ngay dưới vòm cây uốn cong vành nguyệt, Huệ Minh, Lê Thị Hạnh đứng khuất sau các bạn trai, Côn mở cánh cổng đan mắc cáo, đon đả:
- Ui!....Mấy bửa rày mình mong các cậu như mong mẹ về chợ. Kìa! Mệ Huệ Minh, chị Hạnh nữa! Vui quá….
Tuấn, Kỳ, Quang cho Côn biết là hôm qua thầy trở lại Dương Nỗ mới cho phép về thăm nhà. Tuấn chạy ngay đi báo với Huệ Minh, Kỳ báo cho Hạnh, Quang báo cho Xển Văn để cùng nhau đến thăm bà cử. Huệ Minh đi vào gần sân ngỏ lời trách Côn:
- Anh Tuấn, anh Kỳ, anh Quang vì thầy chưa cho về, Văn thì có tật nỏ nói mần chi. Bà ốm nặng tui với Hạnh ở đây mà cậu Côn nỏ nhắc cho một tiếng. Tệ...ệ thiệt đó – Lê Thị Hạnh tiếp lời luôn – Bọn tui là con gái đỡ đần bà lúc ốm đau tiện hơn các anh chứ.
- Mệ và Hạnh bỏ quá cho tôi. Vừa rồi mẹ tôi ốm nặng, tôi bối rối qua. Anh cả mình cũng bị ốm, nằm lại Dương Nỗ, các bạn Tuấn, Kỳ, Quang cũng biết đó. Có mỗi mình tôi ở nhà. Cha tôi về mấy hôm thì lo việc theo dõi bệnh cho mẹ.
- Răng cậu không nhờ chú phó Tràng đến báo với tụi tui? – Huệ Minh hỏi.
- Chú phó Tràng đi vắng đã mấy hôm rồi. Quang đẩy xe Xển Văn vào sân. Huệ Minh và Hạnh đi thẳng vào buồng bà cử. Kỳ, Tuấn giúp một tay dìu Xển Văn vào nhà. Côn để cái chõng dài song song với giường bà cử nằm, Kỳ, Tuấn và Quang dìu bé Xển Văn ngồi vào chõng. Huệ Minh, Hạnh ngồi khép nép bên cạnh bà cử Sắc. Một gói quà bọc giấy hồng điều để trong cái khay cũng được đặt vào bên gối bà cử.
Tiếng bà cử vui nhưng vẫn còn yếu:
- Các cậu…mệ và cô có lòng đến thăm tôi, thiệt quí hóa quá. Bữa ni coi như mười phần đã khỏi được bảy tám rồi…Chiều nay cố ăn tí cơm thử coi.
- Thưa bà – Huệ Minh nói – con và Hạnh nỏ hay biết chi cả. Bà bị se (bệnh) đã ngần ấy ngày rồi mà cậu Côn nỏ cho chúng con biết. Bữa ni các anh ở dưới chỗ thầy về tin cho chúng con mới biết mà đến thăm bà.
Sau lời mở đầu của Huệ Minh, lần lượt Hạnh, Tuấn, Quang, Kỳ đều nói sự băn khoăn của mình đến thăm bà cử muộn mằn, Xển Văn giọng nhỏ nhẹ:
- Dạ…thưa bà, mẹ con độ rày chạy chợ xa, mãi tối mới về. Cha con đi mần nề tận ngoài Phổ Phong. Cả hai còn chưa ai biết bà bệnh trọng mà đến thăm. Con ở đây sẽ về thưa với mẹ con, tối nay mẹ con sẽ…
- Thôi, cậu ạ. Bác chạy chợ cả ngày tận tối…Cậu đã sang đây là quý lắm.
- Dạ thưa bà, chúng con xin được bà gọi chúng con bằng cháu, bằng con ạ.
- Bạn Văn nói đúng ý chúng con, thưa bà.
- Dạ thưa bà, chúng con mong được rứa ạ.
Cả đám con trai hăng hái hưởng ứng lời đề bạt của bé Xển Văn. Huệ Minh và Hạnh cùng ôm chầm lấy hai bàn tay bà cử Sắc nằn nì rất dễ thương:
- Bà ạ….chúng cháu mong được gọi bằng cháu, bằng con từ lâu thưa bà…Hạnh định nói thêm điều gì đó thì Huệ Minh đã tiếp luôn:
- Chúng con vừa là học trò của thầy, vừa là bạn của cậu Côn, cậu Khiêm, bà coi chúng con là con cháu thì chúng con thỏa dạ lắm ạ.
Thấy bà cử Sắc cười vui nhưng còn lưỡng lự. Tôn Thất Tuấn chân thành nói: - Dạ thưa bà, chúng con được thầy dạy cho, chúng con kết bạn nhau, quý nhau, xin được bà coi chúng con như cậu Côn, cậu Khiêm ạ.
Bà cử niềm nở nói chậm, yếu:
- Thiệt là quý…quý…lắm. Từ…từ ở cái tâm cả, rứa thì từ nay đừng gọi tiếng bà mà gọi bằng bác, bác gọi các cậu, các mệ, các cô bằng cháu, được chưa nào?
- Thích lắm!....Thưa bác…Thưa bác….
Cả đám học trò sôi nổi hẳn lên. Bà cử nói tiếp:
- Các cháu đang tuổi hoa tuổi ngọc, sáng như đèn, chơi thân với nhau như con một nhà không tính đến con cháu hoàng gia, con nhà quan, nhà giàu hay nghèo. Bác thấy các cháu, nhất là Công Tôn Nữ Huệ Minh, chú Tôn Thất Tuấn cũng hòa vào với các cháu như Quang, đặc biệt là cháu Văn tàn tật, bị thiệt thòi….Bác mừng thầm từ lâu về các cháu ăn ở có nhân, đã biết hành thiện như vậy. Sách có chữ: “Suy kỳ tương ái chi tình, phát vi chu cấp tế bần chi cử, mạc nhi cơ hàn bệnh tật, bỉ bần dân chi thất nghiệp giả lão nhược tàn phế chi, thi vi từ thiện sự nghiệp”. Bác mong sau này các cháu lớn lên càng có những việc làm vì đại nghĩa, vì lợi ích chung.
Từng gương mặt học trò ánh lên một sắc diện thấm đượm về điều dặn dò của bà cử Sắc. Bà nhắc Côn đưa bạn ra nhà học và ân cần nói:
- Các cháu đem đến cho bác niềm an ủi, niềm vui ấm cúng. Bác cảm tạ các cháu. Chừ các cháu ra nhà học rộng rãi, thoải mái.
Huệ Minh và Hạnh đỡ bà nằm nghỉ. Đám con trai mỗi người một tay định dìu Xển Văn, nhưng Qunag bế xốc bạn lên:
- Một mình tui na Văn ra được mà.
Con mèo từ nãy ngồi ngủ thiu thiu bên cạnh bà cử và hai cô Huệ Minh, Lê Thị Hạnh đã tỉnh dậy, vọt qua cửa chạy theo ra nhà học. Bà cử nhắc Côn:
- Con lấy chè thắp hương tối qua mời các bạn con ăn cho vui, nghe con.
Con mèo ngồi thu gọn đuôi đầu bàn, mắt long lanh nhìn các cậu, các cô học trò thầy cử Sắc ăn nhón nhén món chè thơm hương nhài, Huệ Minh chìa cái thìa chè sát miệng mèo. Chú mèo nháy nháy mắt, mũi giật giật, cả bộ râu rung rung, cái đuôi cựa quậy, toàn thân vẫn không nhúc nhích.
- Mệ cho nó không ăn – Côn nói
- Mèo mà cũng kén chọn – Huệ Minh chưa nói hết câu, Kỳ đốp luôn.
- Mệ biểu kén chọn chi?
- Kén chọn người cho ăn, chứ còn kén chọn cái chi nữa!
- Rứa mà – Tuấn đỡ lời Kỳ - rứa mà ngỡ mệ biểu kén chọn người…trăm….
- Tui méc (mách) thầy đó nghe – Huệ Minh vẻ phụng phịu.
Tuấn gạn lại:
- Mệ biểu tui nói người “trăm” là trăm chi mô?
- ….!
Hạnh nói xẵng giọng:
- Người trăm năm chứ còn lạ chi mà cứ vờ….nữa?
- Sa…i…hế….ết! – Tuấn kéo dài giọng – Tui nói con mèo kén người cho ăn phải là người trăm….tuổi.
Hai cô mặt đỏ gay. Cả đám con trai cười rân lên. Huệ Minh gượng cười nói mát:
- Anh Tuấn thì giỏi cả chèo, khéo cả chống nữa.
Để xóa đi cái không khí ngượng ngùng, Côn đem bức tranh khắc gỗ hơn cái khay trà ra cho các bạn xem. Côn dựng tranh trên mặt cái án thư, dựa vào một chồng sách. Những cặp mắt học trò lấp lánh niềm vui thán phục:
- Cứ ngỡ Côn học đục đẽo với chú phó Tràng cho vui tay. Ai dè…Kỳ nói giọng sững sốt – Ai dè Côn khắc được bức phong cảnh!
- Răng không khắc chữ để biết nội dung bức họa, hả cậu Côn? – Hạnh hỏi.
Côn cười nói thành thực:
- Dạ. Đó, tôi đợi các bạn chỉ bảo thêm để rồi họa lại, khắc bức khác. Khắc đến khi không còn sửa chữa được như lúc còn họa trên tờ giấy nữa.
Huệ Minh dứt khoát:
- Tui thấy đẹp lắm rồi. Khắc thêm chữ vô bức tranh ni thì chỉ rườm rà, thừa. Mà nhìn tranh đã hiểu được cái ý tứ của cậu Côn đặt để trong đó rồi. Thầy đã giảng cho chúng mình: “Như thi trung họa, họa trung thi” kia mà, có phải ai cũng đọc được chữ mà đề vô tranh nữa?
Cả đám học trò gật gù tán thưởng, bé Xển Văn thủ thỉ nói như giao hẹn:
- Tui…tui thử nói coi có đúng ý trong bức họa không nhá - Ừ…ừ…Văn cứ nói đi – Kỳ khuyến khích – Một dãy núi cao tít, vì có nhiều lớp mây chồng chất trên ngọn núi tức là nhìn không thấu hết. Dưới chân núi là dòng nước chảy từ nguồn, rất rộng, chảy dài ra xa, nhỏ dần, nhỏ dần, nhìn hút mắt….
- Có đúng như Văn nói đó không? Cậu Côn? – Quang hỏi
Côn cười:
- Nôm na như Văn nói đó.
Lê Thị Hạnh nhanh ý đọc luôn câu ca dao:
- Rứa thì: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Cậu Côn đã họa bức tranh theo câu hát ru em nớ phải không?
Côn cười. Cả đám học trò cười rộ. Huệ Minh nhắc lại sự thắc mắc lúc đầu của Hahj:
- Thấy chưa. Không đề chữ vô bức tranh mà Hạnh vẫn nhận được nội dung bức tranh nhắc chúng mình về chữ Hiếu đó.
- A ha…! Phải rồi. Nghe mệ Huệ Minh nói, tui nảy ra một cái ý có cả phần gợi ý của Hạnh nữa. Này nhá, cậu Côn khắc vô chỗ ni – Tuấn chỉ ngón trỏ vào góc trên, bên trái bức tranh khắc gỗ - Một chữ thôi, chữ Hiếu. Vì bức tranh ni nói về cái đạo làm con đối với cha mẹ. Chữ Hiếu là đầy đủ nhất.
- Ừ! Có lẽ…- Côn gật đầu…- có lẽ cao kiến của các bạn. Tuyệt! Chữ Hiếu. Chữ ấy hàm một nghĩa lớn
Thầy đã giảng cho chúng mình hiểu gốc của chữ Hiếu là: chữ Thổ ở trên, chữ Tử ở dưới. Có đất mới sinh ra muôn loài, trong đó có loài người. Con người sống được là phải bám vào đất. Đất gắn với người. Chữ Thổ với chữ Tử gắn liền bằng một nét phẩy. Thầy còn nói: Đất tượng trưng người mẹ. Mẹ hiền – Tổ Quốc….
Không khí bình tranh sôi nổi cho tới lúc chú mèo thấy bóng những con chim tước sà xuống sân liền vọt qua đầu Quang ngồi ở phía bàn đối diện với nó.
Tiếng cười của đám học trò bừng lên theo tiếng chim kêu hoảng loạn trên mái nhà.
Hồ Quang nhìn chéo trở lại bức tranh khắc gỗ, hỏi Côn:
- Cậu Côn có tài khắc họa ri, ắt là sướng mắt cái hôm đi với chú phó Tràng vô Đại Nội. Nghe nói trong Nội mọi cái đều chạm trổ kỳ diệu lắm?
- Cậu Côn kể chuyện đong vô Nội đi cậu – Xển Văn nói hăm hở. Cả bọn học trò đều nhìn Côn, vẻ đồng tình với Xển văn và Hồ Quang. Côn giọng khiêm nhường
- Dà, tôi vô Nội có một lần như “cưỡi ngựa xem hoa” thôi. Mà tôi cũng chưa được cưỡi ngựa lần nào. Muốn được nghe nhiều thứ lạ, thứ đẹp, thứ sang trọng ở trong cung cấm thì có mệ Huệ Minh là rành hơn tất cả bọn mình ở đây.
Huệ Minh cười ngượng nghịu:
- Cậu Tuấn, cậu Kỳ vô nội có khi nhiều hơn tôi.
- Cậu Kỳ cũng vô Nội được như mệ Huệ Minh, như cậu Tôn Thất Tuấn à? – Quang ngạc nhiên hỏi. Diệp Văn Kỳ cười tủm. Tuấn đỡ lời Huệ Minh, giải thích:
- Mẫu thân của cậu Kỳ là o ruột của ngài ngự đó chứ.
- Ới trời! Rứa mà lâu nay tui chỉ nghĩ cậu Kỳ có đấng phụ thân là hàng trọng thần, đâu biết mẫu thân cậu Kỳ bậc công tôn, là o của Đức vua Thành Thái!
Diệp Văn Kỳ vỗ vỗ tay lên đùi Quang:
- Th…ôi…mà anh Quang. Xếp cái tích con ông cháu cha lại, nỏ hợp với chúng mình mô. Để nghe cậu Côn nói cảm tưởng khi vô Nội.
- Phải rồi. Cậu Côn vô Nội một lần nhưng cậu thông chữ, sáng dạ, lanh trí hơn bọn tui nhiều. Bọn tui mỗi lần vô Nội cứ khép nép sợ sệt như gái mới về nhà chồng, còn biết chi?
Huệ Minh tiếp lời Tuấn:
- Cậu Tuấn đúng đó. Cậu Côn bạo dạn hơn người lớn. Một mình đi đêm nỏ sợ ma. Đi từ Dương Nỗ về một mình. Bọn tui muốn được biết cậu thích hay nỏ thích những chi trong Nội, coi có hợp với ý bọn ni đã quen nhìn, quen thấy không. Sắp tới có lẽ Vạn Thọ, tui kiếm cách đưa Côn vô dự cho biết. Đi với tui thì coi cậu như một hoàng thân, nỏ ai đếm hết được con cháu trong hoàng gia mô!
Côn tươi cười:
- Mệ nhớ giữ chữ tín nhá.
- Trời đất! Cậu Côn còn phải dặn tui giữ chữ Tín à – Giọng Huệ Minh trở nên vui đùa – Muốn tui giữ chữ Tín việc ấy thì cậu nói cảm tưởng vô Nội vừa rồi đi.
Côn ngập ngừng, muốn lảng tránh mà không được. giọng Côn nói thủng thẳng, buồn buồn:
- “….Tôi đi theo chú phó Tràng. Nhưng chú bắt tôi đóng vai “thầy đồ” chú. Ngượng ơi là ngượng mà vẫn phải tỉnh bơ trước các chú lính thị vệ, các quan thái giám. Vô Nội cái chi cũng đồ sộ, nguy nga choáng cả mắt. Nhưng….nhưng thiệt tình thấy vướng vướng trong bụng mình một thứ….một thứ…chẳng biết nói, biết gọi thế nào để các bạn hiểu như tôi đã nghĩ. Nói nôm na là vầy – Côn gãi gãi đầu – Chú phó Tràng dặn tôi đi vô Nội phải thu mình lại, không được nhìn ngang nhìn ngửa. Gặp ngài ngự là phải đứng lùi vào tận xa và chắp tay lạy. Nghe ngán cả ruột gan. Nhưng chẳng được nhìn thấy vua đâu cả.”
- Côn có đi qua Đại Cung môn không? Huệ Minh hỏi:
- Có chứ! Đi men qua điện Càn Chánh, điện Càn Thanh, ấy vậy mà, lúc mới vô Nội lại gặp một nhóm Tây mũi lõ mỏ diều hâu, mắt sâu cú mèo, tóc xoăn rau muống chẻ, râu xồm xoàm chổi xể đi vô viện Cơ mật rất nghênh ngang. Các chú lính khố vàng bồng súng gỗ sơn son chào chúng và vẽ mặt sợ hãi như bị chó dại đuổi. Các ông lớn, cụ lớn cũng không kém phần so với các chú lính!
- Cũng có nhiều ông lớn trong lục bộ gặp đám Tây là ngoảnh mặt đi – Diệp Văn Kỳ nói.
Tôn Thất Tuấn cũng nói nhưng dè dặt:
- Tui được nghe các đồng liêu của cha tui nói: Ngài ngự không bao giờ nhìn vào mặt sứ Tây vô bệ kiến. Ngài ngự tính không thường, khi ngài nổi nóng thì chi cũng nhỏ. Có lần ông ngự tiền đưa sứ Tây vô gần đến phòng phê thì ngài ngự lên cơn giận ném cả nghiên ngọc vỡ tan.
Côn xác nhận thêm:
- Tôi cũng được nghe cụ Thượng Tấn nói chuyện đó trong buổi tửu đám với cha tôi.
Huệ Minh mặt nghiêng nghiêng, mắt nhìn chéo sang phía Côn, giọng dịu dàng:
- Cậu Côn nói nốt cảm tưởng vô Nội đi. Huệ Minh sắp sửa về có việc mà, cả Tuấn, Kỳ đều phải về đó nghe.
- Có việc chi hệ trọng mà mệ và cả cậu Kỳ cậu Tuấn cũng phải về cùng rứa? – Quang hỏi.
Huệ Minh đáp:
- Dự lễ hoàng tử Vĩnh San đầy tháng.
Tôn Thất Tuấn nói rõ thêm:
- Mệ Huệ Minh, cậu Kỳ là không thể thiếu mặt ở buổi lễ, tui có cũng được, vắng mặt cũng chẳng sao.
Bé Xển Văn hỏi nhỏ Côn:
- Cùng người trong hoàng tộc, răng cậu Tuấn không dự lễ đầy tháng của hoàng tử được, còn cậu Kỳ, mệ Huệ Minh thì lại bắt buộc phải có, hả cậu.
- Xét về dòng họ, Huệ Minh còn gần với vua, bề trên cả vua; cậu Tuấn có phần xa hơn. Còn cậu Kỳ thì lại ngang hàng với vua, vì mẹ cậu với phụ hoàng vua Thành Thái là anh chị em ruột. Côn chỉ hiểu mang máng như vậy thôi, Văn ạ.
Côn lại nói nốt sự nhận xét của mình về chuyện vô Nội:
- Mình còn một vương vướng trong đầu, nói nốt, nếu sai, hoặc trái ý các bạn đừng cười nhá.
- Cậu Côn rào giậu hoài….á! Hạnh nói vui. Cả nhóm cùng cười.
- Mình (có lúc Côn xưng mình) vô Nội, các thứ làm mình choáng mắt vì ở đâu cũng nhìn thấy màu vàng. Các màu khác cũng có, nhưng ít. Cái màu vàng phơi ra rõ nhất là các mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, từ các cửa điện, cửa lầu, cửa gác, cửa chính gọi là Đại Cung môn đều thếp vàng. Đến chú lính đứng gác cửa cũng vấn chân bằng vải vàng, cây súng gỗ sơn son cũng thếp vàng, hoành phi, câu đối, hương án, ghế tràng kỷ, án thư, khay trầu….đều thếp vàng. Cho nên, tôi cũng đã ứng khẩu với chú phó Tràng mấy câu vè, mình đọc lại các bạn nghe cho vui:
Hoành thành vàng
Đầu vua vàng
Chân lính vàng
Ngai ngự vàng
Lính gác vàng
Dân đói vàng
Mắt…vàng…vàng…
Cả nhóm cười đắc ý nhất câu “Đầu vua vàng, chân lính vàng”. Nhưng Huệ Minh thoáng nét buồn và hỏi lại Côn:
- Đang tả màu vàng trong Nội, cậu Côn lại thêm “Dân đói vàng mắt” vô, nỏ ăn nhập chi cả.
- Côn có biết làm thơ đâu! Côn nghĩ sao thì buột ra miệng vậy. Vì Côn thấy ngoài chợ, ngoài cửa Thành dân đói vàng mắt ra, người đi ăn xin nhan nhản ngoài đường. Vô Nội thì thừa mứa sang trọng. Côn nhớ lại những điều thầy (ông Sắc) giảng sách cho chúng mình: Sở trọng giả tại hồ sắc, nhạc, châu, ngọc, nhi sở khinh giả tại hồ nhân dân.
Huệ Minh mặt tươi hẳn lên:
- Cậu Côn tài thiệt đó. Đã nhớ sách lại giỏi ứng vận ngay được với các việc mắt thấy, tai nghe.
- Mệ lại cho tôi cưỡi mây nữa rồi.
Côn nói vui. Cả nhóm cười nói chan hòa. Tôn Thất Tuấn đứng dậy, giọng pha trò:
- Mệ Huệ Minh khen cậu Côn giỏi ứng vận là rất đúng, nhưng hơi thừa. vì cso phải đến bửa ni chúng mình mới biết cậu Côn có tài ấy đâu.
Huệ Minh đỏ mặt:
- Anh Tuấn kê tui đó nghe!
Kỳ đỡ lời cho Tuấn:
- Kê là quý lắm. Này nghe “thương nhau vạn sự đừng nề, dù có chênh lệch thì kê cho bằng”….hề hề….
Cả nhóm lại cười giòn theo. Lê Thị Hạnh chợt nhớ, đứng lên nói:
- Chúng mình mãi vui quên cả việc rửa bát, rửa chén rồi.
- Ờ nhể! Ờ nhể! Ăn hết sạch chè đã lâu mà bát, chén còn để nguyên – Quang nói.
Côn gằn lại:
- Để Côn rửa cho. Mệ và cậu Tuấn, cậu Kỳ còn phải về dự lễ kẻo muộn đó.
- Không…được. Kỳ dài giọng. Phải rửa bát, quét sạch nhà chúng mình mới về được. Đến thăm bác, đỡ đần cậu Côn hóa ra lại…Thôi, mỗi người một tay, mần đi…Trừ cho Văn.
Như đàn chim tước vui nhặt thóc vàng, cả nhóm học trò xúm xít vào việc quét sân dọn vườn, dọn dẹp nhà cửa tinh tươm.
Bà cử Sắc nằm trong giường bệnh nhìn đám học trò của chồng mình, bạn học của con mình, bà vui như nở từng khúc ruột.
PHẦN 19
Bà cử Sắc đã chín năm không thai nghén, lần này đẻ thêm một cậu con trai đúng vào năm cuối cùng của thế kỷ mười chín.
Từ một cô gái con ông tú giữa làng Chùa, Hoàng Thị Loan, mới mười ba tuổi, cha mẹ đã cho hứa hôn, chớm mười sáu tuổi đã cho thành hôn và năm ấy, cái năm còn tuổi trăng tròn đã sinh con gái đầu lòng. Năm hai mươi sáu tuổi, chồng đỗ cử nhân liền “bị” mọi người tôn lên chức bà cử. Ba mươi hai tuổi bà sinh con lần nữa.
Trước ngày ở cữ, bà đã qua một trận ốm. Sau ngày ở cữ bệnh tình có đỡ hơn, nhưng không có sữa cho con bú. Ông cử Sắc đang ngồi dạy học ở Dương Nỗ, nhận một lúc hai tin nóng hôi hổi: Vợ đẻ và quan Tế tửu chọn cử đi Thanh Hóa coi thi Hương. Lòng ông bề bộn, ngổn ngang và vướng víu. Vướng víu như con tằm nhả tơ kết kén bị ướt mình dính mối rối đường tơ. Ông trằn trọc. Trằn trọc suốt cả những năm tháng ông lặn lội trên đường….
Đặt tên cho con trai út: Nguyễn Sinh Nhuận, tự Tất Danh. Ông kê đơn thuốc cho vợ và căn dặn con trai. Nguyễn Sinh Côn ở nhà chăm sóc mẹ như những ngày ông còn đang ở Dương Nỗ. Ông tin con trai mình, tuy còn thơ bé, tuổi lên mười, nhưng trí lực còn hơn người lớn mà vô tâm trí. Ông tin vợ, một người từ khi còn là thiếu nữ đã ghé vai gánh tất cả đi vào đời….
Chữ Tín, cả nhà ông đã xây nên, cả nhà ông gìn giữ. Nó là nền móng của Nhân, của Nghĩa, của Lễ, của Trí. Vì vậy mà ông tin mọi người trong nhà và ngược lại. Người cha nuôi, người thầy học, người bố vợ của ông, căn dặn ông từ lúc ông mới đặt chân vào ngưỡng cửa của gia đình Hoàng Xuân Đường…. “Phải kiến thiết lâu – dài – ngũ – thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) thật kiên cố trong nhà mình. Gia đình nào cũng có Ngũ thường thì mới hy vọng ngoài xã hội tốt đẹp được ”
Người cha, người thầy của ông giữ chữ Tín, dạy con cái, dạy học trò chữ Tín tới khi xuôi tay nhắm mắt. CóTín ở trong bản thân thì mình mới có đức tin. Bởi vậy, Thành tín là cốt lõi của Nhân đức. Không có Tín sẽ nói dối, làm dối, dối trá lẫn nhau thì không thể có: người thương người được. “Nhân nhi vô tín, bất tri kỷ khả giả” – người không có tín thì không phải người, không là người. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, người cha nuôi, người thầy học, người bố vợ còn căn dặn: “Tín giả gia chi mẫu, quốc chi bảo”. Ông đã thấm nhuần lời dạy vàng ngọc ấy. Người nói với ông lúc ông còn ngồi trên lưng trâu khoác tơi rách, nón mê, quyển sách cầm tay: “Ta sẽ nhận bé về làm con, cho ăn học cho tới khi không học được nữa thì thôi, và sẽ xây cơ nghiệp cho…”. Nay ông là cử nhân Nguyễn Sinh Sắc, vợ con đề huề. Vợ lại là con gái yêu quý nhất của thầy! Quả là, người biết giữ chữ Tín là hiền nhân, làm đẹp chữ Tín. Ông ra đi, mang theo cậu con trai cả mới mười hai tuổi, giữa lúc vợ ốm, một nách con thơ, một tay con nhỏ, từ một chữ Tín, giữ chữ Tín. Quan Tế tửu Khiếu Năng Tĩnh trước lúc trao cho ông tờ lệnh của quan thượng thư bộ Học, đặt vào tay ông ly rượu…. “Giữa chúng ta có một chữ Tín, tôi sẽ ra trường Nghệ để cùng cụ Thượng Tấn lo cho Phan tiên sinh (Phan Bội Châu) vào dự thi được ổn. Tôi và cụ Tư Nghiệp thỉnh với bộ Lễ, tiến cử thầy ra trường Thanh. Tôi có một chén rượu nhạt tiễn nhau đi, vì:
Tiễn biệt tửu bôi nhất, tín hiền
Đăng trình đại đạo đỗ quyên quyên:
Quốc….quốc….ai…ai…ai…tư…quốc
Bằng hữu cổ kim nhất tín hiền
Ông đi với một nhận cảm, một linh cảm và trăn trở khó tả!...
***
Từ hôm chồng và con trai cả đi Thanh Hóa được ít lâu bà cử đã thấy trong mình có phần dễ chịu. Bà mừng ngỡ rồi sẽ khỏi hẳn. Bà đã vịn cửa đi lần từng bước từ trên nhà xuống bếp. bà nhìn sân, nhìn vườn. Nhìn được cả khoảng trời cuối thu xanh ngăn ngát. Nhìn con đường trước ngõ hun hút ngoài tầm mắt, lòng bà se se lạnh! Bóng dáng chồng, con đang trên đường muôn dặm cử ẩn hiện trong trí tưởng tượng, có lúc bà thấy như hai cha con khăn gói bên hông đang về. Nhưng đôi mắt phượng, nét mày ngài, miệng cười tươi như một cánh sen hồng của anh nho Sắc từ thưở làng Chùa lại đang trong ký ức bà đi ra. Bà nhìn đâu cũng thấy chồng ngồi đọc sách, đang giảng sách cho học trò, đang thù tạc với bạn bè bên ngọn đèn khuya bóng đổ dài hắt lên vách.
Hai mắt bà luôn đầy ắp hình ảnh chồng, con và lớp lớp hình ảnh mẹ già, em gái, con gái đầu lòng ở quê nhà…Nhiều đêm bà như thể phách ở lại, thần hồn đang đi với chồng con trên đường thiên lý, đang ngồi nhổ tóc sâu cho mẹ, dạy con gái thêu khăn, và cùng em gái đi chợ chiều về, bóng ngã chân đê, tiếng hát ghẹo của các chàng trai nghịch ngợm ở ven sông bay theo làn gió xa đưa….
Sự hồi tỉnh trong người bà cứ như một ngọn lửa cháy trong bếp củi tàn. Nguyễn Sinh Côn lòng khấp khởi tưởng mẹ đang khỏe lên dần. Côn vui với mọi việc dưỡng mẹ lúc ốm, chăm nom em thơ. Nào ngờ về cuối năm, bà cử trở bệnh. Những cơn đua bụng quằn quại, kéo dài trong đem, ăn tý cháo, uống ngụm thuốc đều bị nôn ra, tay chân lạnh cóng.
Côn lấy thanh quế tốt, theo lời cha dặn lúc ra đi, mài với rượu thật đặc xoa khắp người cho mẹ. Cơn đau dịu xuống, Côn lấy tấm áo kép của cha đắp thêm cho mẹ, bên ngoài phủ trùm hai chiếc chiếu dày nữa mới đủ ấm. Côn lo em lạnh khóc, vòi mẹ lại gây cho mẹ nằm không yên. Côn lấy cái gối bông ba thớt trên giường cha và thu góp các quần áo cũ của mình, của anh Khiêm chèn xung quanh người em. Bé Nhuận ngon giấc như lúc được mẹ ôm chặt trong lòng. Côn lại lúi húi quạt một nồi than rực hồng đặ dưới giường mẹ nằm.
Đêm yên tĩnh. Côn khơi to ngọn đèn, mở ngăn sách thuốc của cha đọc và nhớ lại những điều cha dặn. Con mèo lại đến ngồi bên cạnh Côn. Nó là bạn gần gũi nhất. Côn làm việc gì nó đều ở bên cạnh, tuy nó không đỡ đần được công việc nhưng chia sẽ với Côn sự mệt mõi tâm thần. Côn kiểm nhớ lại từng loại đơn thuốc cha đã kê sẵn và nghe ngóng bệnh của mẹ thay đổi diễn biến. Một phần để Côn yên tâm là mẹ cũng đọc được sách thuốc, mẹ cũng biết ít nhiều về khoa thăm mạch do ông ngoại và cha truyền cho mẹ. Côn còn được cha giao hẹn, ở nhà nếu bệnh mẹ trầm trọng thì báo cho quan Cao Xuân Tiếu ở Quốc Sử quán….
Côn vừa ngả lưng chợp mắt được một lúc thì tiếng súng mở cửa Thành đã đánh thức. Côn lại rón rén dậy sợ em tỉnh giấc.
Mưa dầm dề. Côn đội nón ra vườn hái lá ngải cứu để chườm cho mẹ. Đang lúi húi bên khóm cây ướt đẫm. Côn chợt lạnh gáy chạy dọc xương sống! Một giọng ru con ngái ngủ của bác hàng cơm hến, ở cạnh hồi nhà phía đông “….Á…a ơi….Mưa….lâm….thâm….ướt…dầm….lá….hẹ….Thương….em…thương….một….người….mất….mẹ….mất….mẹ....bơ…vơ…ơ” Côn như chết lặng giữa vườn mưa heo hút! Tiếng bác trai mắng bác gái như lay tỉnh tâm hồn em. “Trưa trật rồi bà ơi. Đánh cho hắn mấy que củi chứ ru với hát chi nữa. Dậy đi….”
Côn rảy rảy mớ lá ngải cứu cho ráo nước mưa. Côn giã nhỏ ngãi cứu, gừng, muối rồi bọc vào mảnh vải cũ cắt ra từ tấm áo rách. Côn vò khăn nước nóng cho mẹ lau mặt xong rồi hơ gói lá thuốc trên nồi than hồng chườm cho mẹ. Con mèo lại ngồi thu lu bên nồi than của Côn. Bé Nhuận thức dậy, khóc mấy tiếng, được mẹ cho ngậm vú nó nín liền. Nhưng vú mẹ không có sữa, bé Nhuận lại giảy nảy khóc nhè. Được sự vỗ về của mẹ, tiếng dỗ dành của anh, bé Nhuận êm tai và đành mút cái vú khô kiệt quắt queo!
***
Ngày nối ngày. Năm Tý sắp hết. bệnh bà cử Sắc càng nặng thêm. Côn mong cha về mỏi cả mắt. Côn cũng ước mong chú phó Tràng đi làm mộc tận Nam Kỳ về lúc này khác nào trèo đèo bíu được cây bên dốc. Một ngày mấy lần Côn bế em sang xin bú chực bác hàng cơm hến, chi ba cháo chè, bà cai lính khố vàng. Nhiều bà ở quanh xúm đến thăm bà cử đang thì nuôi con mọn, đều dặn Côn cứ việc bế em đến cho em bú. Có lần Côn khóc òa lên vì bé Nhuận vừa ngậm vú bà Cai Vàng thì bị đứa con bà, gần đầy năm bò xộc đến, hai tay bấu vào má bé Nhuận lôi trở ra không cho bú. Bà đánh nó một cái đét, nó vừa khóc vừa lăn vào cắn bé Nhuận. Từ bữa đó Côn ít bế em đi xin bú chực. Côn bắt chước bà ngoại, súc miệng sạch sẽ nhá cơm cho em. Côn cũng vừa xoa đầu vừa nựng dỗ nhứ nhứ tờ giấy màu, hay bông hoa dâm bụt trước mắt em để nó chịu ăn.
Các bạn tuổi thơ đến đỡ đần Côn rất nhiều. Hầu như ngày nào Quang và Đầu-Trái-Bưởi cũng đến gánh nước, đi cân thuốc ngoài tiệm, đi hái củi giúp….Nhóm bạn Huệ Minh, Tôn Thất Tuấn, Diệp Văn Kỳ, Lê Thị Hạnh thì giúp việc bế bé Nhuận đi chơi, đưa đến các bà vú nhà quan cho Nhuận bú. Nhà cửa, sân vườn được hai cô quét dọn sạch sẽ, gọn gàng. Tuấn và Kỳ thạo công việc xén cây cảnh, tưới rau. Cho nên, thầy cử Sắc đi vắng, bà cử ốm nặng lâu ngày, Côn bù dầu việc thuốc thang cho mẹ, bế ẵm em mà vườn rau, cây tuốc vẫn tươi tốt.
Bé Xển Văn không đỡ đần được như các bạn thì mỗi lần mẹ đong giúp gạo, mua thức ăn đưa đến cho Côn, Xển Văn nhờ mẹ đẩy xe cùng đến thăm. Cũng có hôm Xển Văn nhờ Quang đẩy xe đưa Xển Văn đến chơi với bé Nhuận cả buổi để Côn rảnh tay làm việc khác.
Một hôm vừa chập tối bà cử nằm mê mê tỉnh tỉnh nghe tiếng Côn khóc dưới bếp. Bà mở choàng mắt gọi:
- Côn ơi! Côn…ơ…i! Răng con…khoa học…óc?
Côn từ dưới bếp chạy lên ôm choàng lấy mẹ:
- Mẹ…m…ẹ ơi! Con….con có lỗi.
- Có việc chi rứa con?
- Con…sắc thuốc cho mẹ. Con ngồi tựa vào gốc cột ngủ quên, cháy mất cả bã thuốc! hu…u…hu…u! – Côn khóc to, không kìm nỗi nữa. Bà cử cũng khóc nhưng vẫn dỗ con giọng đuối hơi, đứt quãng.
- Đừng….con…đừng…kh…óc…Em nó….thức….giấc. Lỡ …cháy….rồi…thì sẽ sắc…chén….khác….Vì….mẹ….ốm….quá….lâu…con….phải….đói…ăn…đói…ngủ…. Mẹ…mẹ biết công….của…con….chăm…mẹ, nuôi em….to…lắm…Con….có hiếu….con không….có lỗi…
Côn nằm xuống cạnh mẹ, nuốt nước mắt, nói thỏ thẻ:
- Cháy siêu thuốc, con lo lắm mẹ ạ.
- Mẹ…đã nói cháy rồi thì thôi, m…à
- Con lo cái điều như bà ngoại nói với dì An hồi năm nọ.
- Bà nói răng?
- Hồi đó ông ngoại ốm nặng. Dì An sắc thuốc cho ông, bà dặn đừng để cạn mà thuốc mất hiệu nghiệm. Bà còn nói khẽ với dì chớ lơ đãng bị cháy thuốc thì “gở” đó. Giờ đến lượt con để cháy thuốc của mẹ…con sợ…sợ…lắm…mẹ ạ.
Bà cử thở dài muốn ôm lấy con mà không nhắc nổi cánh tay lên. Bà an ủi:
- Sắc thuốc bị cạn, bị cháy thì hỏng thuốc, chỉ có rứa thôi. Con đừng…nghĩ lan man…nỏ ích chi…Còn bà ngoại nói sự “gở” thuốc cháy, hay nấu cơm khê là để…cẩn thận kẻo…phí của mà lại hỏng việc con ạ.
Đêm ấy Côn nằm bên cạnh mẹ. Côn cứ thấy thấp thỏm, bồn chồn đến khó chịu.
Côn cũng thấy mẹ trằn trọc, khó thở. Côn lại cầm chặt bàn tay mẹ:
- Mẹ ơi! Sao cha đi lâu quá. Còn hai hôm nữa đã hăm ba tháng chạp, ông Táo về trời rồi. Nhiều nhà đã sắm hàng Tết. Ngoài phố, các cửa tiệm đã chưng bày nhiều thứ đẹp lắm, mẹ ạ.
- Mẹ cũng sốt ruột lắm. Cha con có hẹn sẽ về trong tháng chạp ni là cùng. Nhưng cha con cũng dặn hờ mẹ là ghé thăm bà ngoại, coi dì An, chị Thanh của con mần ăn ra răng thì có thể giáp Tết mới về thấu. Trừ khi ốm yếu dọc đường cha con đành phải trễ qua Tết…
Bà thở hắt ra:
- Mẹ…lo…anh…con…đi…đường…ngái (xa)…gân…cốt chưa cứng….cáp chi… Không khéo….đi ….hầu cha….hay….cha lại….hầu con?
Bóng đêm của cái đêm này, cả hai mẹ con bà cử đều thấy dày đặc và tối nặng một cách ghê ghê, sờ sợ! Tiếng gió hú ngoài cửa Thành! Tiếng gió hú trên nóc nhà! Tiếng gió hú vào khe cửa! Tiếng gió hú khắp cả kinh thành!...Côn lại níu cánh tay mẹ vào ngực mình. Côn cố nhắm mắt để dễ ngủ, trái lại bao nhiêu đốm màu, đủ thứ màu nhỏ li ti nhiễu loạn trước mặt càng thấy nặng đầu.
Thấy con không ngủ được bà cử nhắc:
- Khuya lắm rồi, ngủ…đi…con…
- Lúc nãy ngồi đun bếp con không sao chống chọi được cơn buồn ngủ, mà bây giờ con tỉnh như mắt chuột ngày mẹ ạ.
Bà cử giọng sến sẩm:
- Mẹ…để…dành…tấm vải…dệt đẹp nhất. Mẹ đã…nhờ may quần…áo…cho cha con, cho anh…cả con. Còn lại để…mẹ…may…quần….áo….Tết cho con và may….áo…cho bé Nhuận…mà…
Bà cử nghẹn nước mắt! Côn vuốt ngực cho mẹ:
- Mẹ ơi! Tết này con chưa được mặc quần áo mới thì Tết năm sau, nghĩ chi chuyện đó hả mẹ cốt nhất mẹ chóng khỏe. Cha và anh cả về được bình an là nhà ta vui còn hơn cả Tết mẹ ạ.
- Ừ…đến…hôm…cha….và….anh….cả…con…về, dù…. mẹ… chưa… khỏi…. hẳn…. bệnh, hơi… khỏe… ra… được…. đôi… chút… thì…. mẹ… cũng…. cố…. dậy…. làm… một…bửa…cỗ… đông… vui…. như…. bữa… giỗ… ông… dạo….nọ….con…ạ. – Hơi thở bà dồn dập – Cố…ngủ…đi….con…con…mà…ốm….lúc….ni nữa…thì….
Bà cử cố nói chuyện với con được bấy nhiêu điều như đã vét cạn sức sống! Bà thiếp vào cơn mê. Côn đưa tay rất khẽ qua người mẹ dẹm chặt các mảnh đắp cho em Nhuận. Bé
Nhuận ngủ ngon. Con mèo nằm ngoài tấm đắp dưới chân Côn từ lúc nào. Côn mở hé chiếu đắp, đưa chân đẩy nhẹ con mèo vào sát với chân mình cho nó ngủ được ấm. Con mèo tỏ vẻ nũng nịu, cà cà cái đầu lông mượt như nhung vào chân Côn. Côn lâng lâng đi vào giấc ngủ. Một giấc mơ mở ra ngắn ngủi: Côn ngồi học bài bên mẹ. Mẹ Côn đang dệt lụa…cái khung cửi đặt trên một dải lụa đào trải rộng phập phồng….Mẹ vừa dệt vừa giải nghĩa những chữ khó cho Côn…Gương mặt mẹ hồng hào hòa với sắc lụa đào….Đầu mẹ không vấn khăn mà thả tóc chảy qua lưng đỗ xỏa xuống dải lạu đào, màu tóc mẹ như làn nước thăm thẳm xanh…Mẹ đang nói với Côn việc làm cỗ đón cha và anh cả về mời bạn bè đến dự đông vui như Tết…Bỗng tấm lúa đào bay lên nâng cả mẹ cả khung cửi lên theo. Côn nhảy lên với lấy dải lụa mà bay trở xuống với Côn nhưng cao quá! Những án mây ngũ sắc vần xung quanh đưa mẹ đi xa dần xa dần…Côn vẫn cầm sách trong tay gọi mẹ…gọi cha…
Người khắp kinh thành đang nô nức đi sắm Tết. Nhà nhà đang vui náo nức đón Tết Tân Sửu, cái Tết đầu tiên của thế kỷ hai mươi…Nhưng! Nhưng dưới mái nhà nho nhỏ như hai cánh chim bị thương xòa ra ở một góc đường Đông Ba của thành Nội Huế nhóe lên yếu ớt tiếng khóc trẻ thơ mất mẹ! Tiếng khóc lay lắt như ngọn đèn trước gió trong ngôi nhà mà đã bao năm tháng vang ngân tiếng giảng sách sang sảng như chuông thức tỉnh lòng người!
Nguyễn Sinh Côn thấy đất trời sụp đổ và đổ theo xuống ôm lấy thi hài mẹ! bé Nguyễn Sinh Nhuận chưa biết gì, khóc đòi mẹ vì đang khát sữa!
Tiếng khóc của Côn da diết như một lời kêu gọi – Mẹ ạ! Mẹ ơi! Mẹ…ch…ết…cha chưa về…chúng con sẽ sống sao đây?
Hàng trăm tiếng khóc nấc lên nhập vào tiếng khóc của anh em Nguyễn Sinh Côn. Đứng bên Côn đã đủ mặt các bạn tuổi thơ: Công Tôn Nữ Huệ Minh, Diệp Văn Kỳ, Tôn Thất Tuấn, Lê Thị Hạnh, Hồ Quang, Xển Văn và Đầu-Trái-Bưởi với nhóm bạn đại lộ Đông Ba…
Các bà, các ông quanh xóm phố, ngoài cửa Thành trong Nội…nghe tin vợ thầy cử Sắc – Hoàng Thị Loan từ trần liền bỏ mọi việc chạy đến. Ngôi nhà không chứa hết tiếng khóc, tiếng nói thảm thiết:
- Số phận cay nghiệt…cay nghiệt quá chừng!
- Một nhà bề thế, có đông đủ người già, người trẻ mà lâm cảnh người thân qua đời. còn “tang gia bối rối”. Huống chi nhà ni: chỉ có hai anh em, một đứa lên mười một đứa chưa đầy tuổi, mẹ chết!
Có thử thách nào tàn nhẫn hơn, ghê sợ hơn cái thử thách tuổi thơ mẹ chết!...Cha đi xa chưa về!...Tứ cố vô thân?...
- Ô! Ô!...xao xác…như…gà…con…mất….mẹ!
- Ôi! Trời đất!....Trẻ con mọi nhà đang vòi cha mẹ may áo đẹp mặc Tết. Ở đây…cậu Côn, con thầy Nguyễn Sinh Sắc mặc áo chủ tang đi chôn mẹ.
Côn đang phủ phục bên linh cữu mẹ, nghe loáng thoáng tiếng ai nói bên tai như giọng chú phó Tràng…như giọng quan Thượng Đào Tấn…như giọng chú Phan Văn San…chú Lê Văn…hay tiếng quan thái giám, quan chấp chưởng: “Cậu Nguyễn Sinh Côn ơi! Cậu cầm chìa khóa vàng mở đường vào thế kỷ hai mươi, cậu gặp ngay một cửa tử đầu tiên này! Cậu vượt được thì cậu sẽ đi mọi cửa ải trên đời!…”
***
Trước cảnh ngộ không người thân thích ở gần, bà cử Sắc đã được các gia đình bạn bè, gia đình các học trò của ông cử tại thành Nội và tận Dương Nỗ chôn cất chu đáo. Côn như người mất hồn, bế em ngồi trước bàn thờ mẹ nhìn ngơ ngác! Các bạn học, bạn tuổi thơ vẫn còn xúm xít với anh em Côn. Các ông bố bà mẹ bạn của Côn cũng chưa thấy ai nỡ ra về.
Tiếng bà Xển Văn nghẹn ngào:
- Cậu nho ạ. Cậu vốn là thầy học khai tâm cho bé Văn. Bé Văn lại được làm học trò của thầy cử, được bà cử thương như con cái trong nhà. Chừ bà cử về chín suối, thầy còn trên đường muôn dặm xa xôi, cậu đưa em về ở bên tui cho có anh có em với bé Văn. Khi mô thầy cử về thì sẽ liệu. Cậu ở lại một mình trong nhà ni mô được
- Cháu tạ ơn bác. Để cháu nghĩ thêm đã bác ạ.
Ông bố Quang năn nỉ:
- Cậu nho ơi. Bác Văn nói chí phải. Tui vì cảnh một thuyền một lái trôi nổi trên sông, nỏ dám mời anh em cậu xuống đó. Cực lắm. Bọn tui sẽ chạy đi chạy lại với anh em cậu. Cậu nên đến ở đằng bác Văn là tiện nhất.
- Dạ thưa bác. Đa tạ bác. Cháu gặp hoạn nạn, cháu nhớ suốt đời ơn to này của các bác.
- Xin cậu – Ông bố Quang đỡ lời.
Côn vừa nuốt nước mắt vừa nói:
- Em cháu đang bị đi lỏng nhiều. Nó hay khóc đêm, giờ lại thêm nỗi nhớ mẹ, nó khóc nhiều mà chúng cháu ở trong nhà các bác không tiện. Ngày Tết, các bác phải vui Tết, có khách, có cỗ Tết. Anh em cháu đang có tang mẹ, ở trong nhà các bác làm các bác mất vui. Lại có tục lệ kiêng khêm nữa, bác ạ.
Bà mẹ Tôn Thất Tuấn, dáng người bệ vệ, mặt đôn hậu, chắp tay thành kính vái ba lần trước linh sàn bà cử Sắc. Bà ngồi xuống cạnh anh em Côn:
- Từ nãy chừ, bác được nghe những lời cháu nói với các vị phụ huynh đây. Bác cầm lòng khôn đặng. Quả là, danh bất hư truyền. Các bạn của cháu như mệ Huệ Minh, cháu Hạnh, cháu Kỳ, nhất là Tuấn của bác bấy lâu khen cháu, quả là nỏ thấm chi. Lúc gặp cảnh ngộ hiểm nghèo ni, bác thấy cháu cứng cáp hơn cả người lớn. Bác nói với cháu thêm điều ni nhé.
- Dạ vâng ạ - Côn vừa xoa đầu cho em ngủ, vừa chăm chú nghe – Cháu sợ phiền cho nhà người khác mà từ chối việc đến ở với các phụ huynh. Cháu còn bé mà đã nghĩ chín chắn, đâu ra đó. Nhưng, nhà bác rộng, có buồng riêng biệt. Bác đại diện cho song thân mệ Huệ Minh, cho song thân của Hạnh, của Kỳ, mời anh em cháu đền đằng bác. Cháu thấy được không?
- Dạ thưa bác. Tấm lòng vàng của bác cũng như tình “lá lành đùm lá rách” của bác Văn, bác Quang, cháu ghi nhớ, còn sống còn nhớ mãi. Ngoài lẽ sợ phiền đến các bác, cháu còn một nỗi – Côn lại nuốt nước mắt, nhìn lên bàn thờ mẹ và đồ đạc trong nhà – Cháu không thể xa bàn thờ mẹ cháu. Khung cửi của mẹ cháu còn kia! Sách của cha cháu còn kia!
Nơi anh em cháu học hành còn đây!...Thưa các bác, cháu…cháu….
Mọi người ngậm ngùi nhìn Côn. Huệ Minh nói, tiếng nói thay cho các bạn:
- Cậu Côn bấm chí ở lại nhà. Chúng cháu sẽ chia nhau hàng ngày đến với cậu Côn, các bác ạ….
PHẦN 20
Bé Nhuận đã ngủ trên vòng tay anh sau một trần gào khóc! Côn không nỡ đặt em xuống giường. Rét! Em Nhuận mà thức lại, khóc chưa biết đến bao giờ mới dỗ nín được. Mỗi lần thèm sữa, nhớ hơi mẹ, em khóc, hai mắt nhắm nghiền, hai tay cào cấu vào khoảng không mà Côn cảm thấy lòng mình bị những cái vuốt cấu xé!
Côn bế em ngồi tựa lưng vào mép bàn thờ mẹ. Con mèo ngồi ủ rũ bên canh Côn. Thính thoảng nó mở mắt nhìn Côn, nhìn ra sân rồi khép diễm mi nhè nhẹ lại. Có chú mèo ngồi bên cạnh, Côn đỡ phần trơ trọi. Đôi lúc Côn bế con mèo lên nhử nhử dỗ dành em, bé Nhuận nín khóc đùa với mèo!
Những tiếng pháo lẽ loi bên hàng xóm. Bé Nhuận giật mình. Con mèo cũng mở choàng mắt vươn người dậy. Côn xoa đầu em vỗ về: “Em ngủ ngoan…ngủ ngoan…”
Bóng đêm đã khép kín tát cả. Ngọn đèn trên bàn thờ tỏa ánh vàng nhợt nhạt xuống mái tóc Côn. Côn vẫn để mắt ra ngõ tối. Thấp thõm cha và anh cả sắp về thấu nhà! Biết đâu mẹ sống lại được trở về với con như trong các chuyện cổ tích!
Một tiếng đằng hắng ngoài ngõ, Côn thấy đỡ trống lạnh:
- Em Xin (Nhuận) ngủ rồi chắc? Im ắng rứa cậu Côn ơi!
Nghe tiếng Kỳ hỏi, lại có cả tiếng nói nhỏ của Tuấn. Côn mừng ấm ran người. Con mèo cũng mừng nhảy xuống đứng trước cửa.
- Em nó ngủ một lúc kha khá rồi. Trời rét. Vì Côn mà các anh vất vả.
- Cậu Côn còn nói vẫn vậy thì – Tuấn kéo dài giọng – bọn ni “phạt quỳ” đó nghe. Cả ba cùng nhếch mép nhìn lên bàn thờ tang không dám cười. Kỳ hỏi luôn:
- Tối qua Quang, Đầu-Trái-Bưởi đến được sớm hơn không cậu Côn? – Sớm hơn chừng này một ít.
Côn đứng dậy trao bé Nhuận sang tay Tuấn, Kỳ đặt vịm cơm xuống đầu phản:
- Bửa ni có mấy cái bạn bột lọc để phần cho bé Xin đây. Anh ăn cơm đi.
Côn ngả cái mâm ra giữa phản. Kỳ để các món ăn vào và xới cơm ra bát cho Côn
- Vẫn đắng miệng, tôi chẳng muốn ăn tí nào cả.
- Ấy – Kỳ nói – Phải ăn, mệt đến mấy cũng phải ráng ăn kẻo quỵ mất, cậu Côn ạ.
Lại có tiếng nói ngoài ngõ đi vào:
- Cậu Tuấn, cậu Kỳ có đây rồi phải không?
Kỳ, Tuấn nhìn Côn vẻ ngạc nhiên. Kỳ nói:
- Đầu-Trái-Bưởi lại đến nữa. Càng vui.
- Hình như có…Tuấn đang phán đoán thì Đầu-Trái-Bưởi và Quang đã vào nhà. A!...A!...Tuấn, Kỳ muốn reo to lên vì vui mừng, vì có thêm hai bạn đến ngủ, nhưng nhìn bài vị bà cử Sắc liền kìm lại ngay.
Côn băm khoăn hỏi:
- Ngày Tết, có nhiều việc mà tối nào hai anh cũng đến với Côn?
Quang phân trần ngay:
- Cậu Côn chớ nghĩ gần nghĩ xa chi việc ni nghe. Bọn tui ở nhà cũng đi ngủ chứ mô có công việc lên xuống chi.
Tôn Thất Tuấn trao bé Nhuận cho Quang và hỏi:
- Tui tưởng bửa ni nhà ai cũng lo việc nấu bánh tét, mần các thứ bánh trái, cỗ bàn.
- Mẹ tui nấu bánh tối qua. Ở dưới thuyền, mẹ tui nỏ dám bày vẽ ra nhiều thứ cỗ bàn như các gia đình ở trên cạn.
- Ở trên thuyền tù túng chật chội kể cũng cực thiệt.
- Hổng chắc – Kỳ bác lại Tuấn - Ở dưới thuyền cũng có nhiều cái thích thú mà ở trên cạn nỏ có được
- Cậu Kỳ nói phải đó – Đầu-Trái-Bưởi phụ họa – Tui cũng vài lần xuống chơi thuyền nhà anh Quang rồi. Mùa hạ mát ơi là mát. Ban đêm nằm ngửa trên mui thuyền ngắm sao tha hồ đếm, tha hồ họa ra các thứ hình thù theo mắt mình. Cha anh Quang biết rất nhiều tên các ông sao trên trời.
Tuấn đai giọng:
- Tui xin…các…đại huynh hẵng bớt bớt óc thi sĩ cho ạ. Xuống thuyền chơi một hồi, một buổi thì còn “ước sao ao trăng” chớ bắt ở dưới năm này sang năm nọ lại la làng lên. Phải rứa không anh Quang?
- Phải ạ. Cậu Tuấn đã hiểu được cảnh khổ của dân chài ta. Bọn tui thèm được một túp lều ở trên bờ lắm.
Côn ngồi nhai từng miếng cơm uể oải. Nếu như trước ngày mẹ mất, nghe các bạn tranh cãi, Côn liền lên tiếng. Hôm nay Côn lặng thinh.
Bé Nhuận thức giấc. Quang à ơi mấy tiếng, bé Nhuận khóc đòi đến với anh. Quang bế lên vai ru. Tuấn, Kỳ, Đầu-Trái-Bưởi đều xúm lại bên Quang dỗ dành bé Nhuận. Kỳ đút bánh bột lọc, bé Nhuận vẫn giẫy nẩy khóc. Côn phải bưng bát xuống bế lấy em. Côn lau mặt cho em. Côn nhứ nhứ cái bát cơm mèo: “Mèo ngoan không khóc. Mèo ăn ngon này…Mèo ăn hết cả rồi này!” – Côn lại dỗ em: “Bánh ngon lăm. Em ngoan hơn con mèo. Em ăn ngon lành lắm. Mèo không được ăn bánh, chỉ được ăn cơm thôi!”...Bé Nhuận đã chịu ăn, không khóc nhè.
Đầu-Trái-Bưởi chìa cỗ bài tam cúc ra hỏi
- Anh Quang chơi giỏi lắm. Cậu Kỳ, cậu Tuấn có chịu chơi bài ni không?
- Ít ngày Tết chơi cũng được thôi. Kỳ đáp. Thấy Tuấn lưỡng lự, Đầu-Trái-Bưởi hỏi gạn:
- Cậu Tuấn chơi cho đủ chân nhá cậu?
- Ừ thì chơi – Đầu-Trái-Bưởi đếm luôn:
- Đủ bốn chân nhá. Cậu Tuấn, cậu Kỳ, anh Quang và tui.
Bốn mái đầu xúm quanh ngọn đèn dầu. Diệp Văn Kỳ hỏi:
- Phải xướng luật chơi lên đã chứ!
- Ờ…quên – Đầu- Trái-Bưởi mau miệng nói – Một là, tướng ông tướng bà sĩ đều khoogn được đi nước đầu; hai là, tứ tử hạ liền, ngũ tử được quyền kêu; ba là, lấy đôi mã đen, tốt đen làm “kết heo”. Một lá bài kết được tính giá gấp đôi lá bài thường. Ai có đôi mã đỏ, tốt đỏ đã vội cho ra ăn thắng trước thì phải phạt đền khi có người “kết heo”.
Hồ Quang hỏi:
- Ăn bằng chi?
- Tùy các cậu nho – Đầu-Trái-Bưởi đáp - Tui đặt thử coi các cậu ưng không nghe.
- Được – Kỳ đáp – Mỗi lá tính một cái véo vô đùi non. Nhưng khi bị véo không được la to. Được chưa?
Tôn Thất Tuấn từ nãy ngồi trầm lặng, nhìn chéo sang phía Côn đang cho bé Nhuận ăn, nói giọng tầm trầm:
- Tui nghĩ lại rồi. Tụi mình đừng chơi bài tam cúc thì phải hơn. Đã nhào vô trò chơi ni thể nào cũng có được, có thua bất ngờ cãi cọ, la lối, đòi nhau những cái véo…nỏ nên chút mô! – Tuấn nhìn lên bàn thờ bà cử hương nhả khói trang nghiêm. Cả nhóm lặng im. Đầu-Trái-Bưởi gói cỗ bài tam cúc bỏ vào túi áo. Tuấn lại phá cái im lặng kéo dài:
- Tụi mình đi nằm cho ấm, kể chuyện đời xưa, hay chuyện đố vừa bổ ích, vừa ấm cúng nữa.
- Phải đó, anh Tuấn sáng ý đó – Kỳ nói.
- Ừ nhể - Đầu-Trái-Bưởi tươi tắn lên – Tui cứ hay vô ý vô tứ. Đánh bài ăn véo lúc ni là đoản lắm. Chừ tui có dọn mâm bát, cậu Côn bế em rồi. Anh Quang quét dọn bộ phản học, trải chiếu nằm ở đó mới đủ được.
- Mình với Kỳ chơi à? – Tuấn nói đùa. Đầu-Trái-Bưởi cười:
- Cậu thắp hương tưởng niệm bà cử. Từ tối đến đây chừ chúng ta chưa thắp mà. Còn cậu Kỳ thì, thì – Đầu-Trái-Bưởi chưa nghĩ ra việc gì. Kỳ đã nói luôn:
- Tui đi ra đóng cổng, được chưa “đại huynh”.
Đầu-Trái-Bưởi cười toét miệng. Tất cả xáp vào việc tíu tít như đàn chim tháng ba tha rác vào tổ. Côn bế em đi quanh bàn thờ mẹ, vỗ về cho em ngủ trở lại. Côn khó nguôi nỗi đau mất mẹ nhưng trong nhà đỡ tanh lạnh, tình bạn sưởi ấm cho hai anh em côi cút giữa chốn kinh đô.
Mùi hương mở rộng cánh cửa của đêm tàn năm. Trên bộ phản rộng, nơi hằng ngày thầy Nguyễn Sinh Sắc dạy đạo làm người cho những tâm hồn trong trắng, giờ đây là cái tổ ấm của những trái tim thơ ngây sưởi ấm cho hai con trai ông bé bỏng côi cút!
Hai anh em Côn nằm giữa. Quang nằm phái ngoài, Đầu-Trái-Bưởi nằm bài ngoài cùng. Tuấn nằm sát cạnh Côn, Kỳ nằm bìa trong cùng. Tấm đắp của thầy cử sắc, Côn đành đắp cho Tuấn, Kỳ và đắp ngoài thêm một chiếc chiếu nữa. Anh em Côn, Quang và Đầu-Trái-Bưởi đắp hai chiếu dày. Tuấn và Kỳ không chịu đắp mền, nhường đi ngường lại với nhau. Cuối cùng Côn phải nói thật lòng:
- Anh Quang, anh Nông (Côn ít khi gọi cái tên Đầu-Trái-Bưởi của bạn) và tôi gia cảnh sàn sàn với nhau đã quen đắp hai cái chiếu thô, mền mỏng. Cậu Tuấn, cậu Kỳ rời đệm dày, chăn ấm đến nằm chung với bọn tôi trên tấm chiếu trơn tôi áy náy lắm!
Tuấn thúc nhẹ cùi tay vào người Côn:
- Nói chuyện khác…nói chuyện khác. Tụi ni nỏ ưa nói chuyện rứa mô nghe.
Kỳ cũng rầy lại Côn:
- Cậu Côn còn chưa thiệt tin cái bụng của tụi tui thì mới nghĩ rứa!
Quang đỡ lời Côn bằng cách nói chuyện khác:
- Cậu Kỳ, cậu Tuấn kể chuyện đời xưa, hay đố đi chứ?
- Nên kể chuyện chi trước mô? – Tuấn hỏi lại.
- Tui chưa rõ các vương tôn có chơi bài như bọn ni ở ngoài phường chợ ni không? – Đầu-Trái-Bưởi hỏi.
- Úi chà! - Tuấn nói – họ còn máu mê cờ bạc gấp tẳm lần ở ngoài kinh thành ni. Mỗi vương phủ là một sòng tổ tôm, xóc đĩa, bài phu, bài chắn, tài bàn…Họ chơi từ Tết đến hết tháng ba mới vãn.
- Ngày Tết vui xuân, các vươn tôn chỉ lao vô cờ bạc chứ nỏ còn vui thú chi có ích, hả cậu? – Quang hỏi.
- Không hẳn rứa mô. Trong các vương phủ còn có những trò chơi hay hay, như chơi đầu hồ. Chơi cái trò ni công phu tập luyện nhiều lắm.
- Cậu kể kỹ kỹ cho dễ hiểu, cậu Tuấn ạ - Đầu-Trái-Bưởi nhắc.
Chiều ý Đầu-Trái-Bưởi, Tuấn mô tả:
- Đồ chơi đầu hồ gồm một cái hồ (bầu) bằng đồng, hoặc bằng gỗ cao độ ba gang tay người lớn. Miệng rộng dưới đáy căng một miếng da bò như mặt trống. Một thớt gỗ đặt cách mặt cái hồ một sải chân. Người chơi phải có những thẻ gỗ nhẹ, hình mái chèo, dài độ bốn gang tay. Khi chơi phải đứng xa mấy bước chạy đến chống đầu cái thẻ xuống mặt thớt, cái thẻ nhảy lên cao lao vào miệng hồ đánh vào mặt trống vọng ra những âm thanh boong boong. Người thắng cuộc là người ghi được nhiều bàn thẻ nhảy vào hồ và thẻ gõ vào trống được nhiều tiếng boong boong.
- Trò chơi ni vui thú thiệt, nhưng phải những người rỗi rãi lắm thì mới ăn được – Quang nói.
- Anh Quang nói đúng lắm – Kỳ xác nhận thêm – Tui nghe mẹ tui kể, ngày còn ông Hường Nhậm, vua Tự Đức nổi tiếng về trò chơi đầu hồ và trò chơi “đối chữ”, “mẹo chữ”, “đố chữ”.
Đầu-Trái-Bưởi lại sôi nổi:
- Đố chữ? Đối chữ? Mẹo chữ? Thú hề…thú vị hề! Cậu Kỳ kể luôn đi.
- Các trò chơi ni rất lắc léo, kỳ lăm, phải lanh trí lắm kia. Tỷ dụ như dùng những tiếng nôm na mà mách qué lắm.
- “Rầu rĩ rầu ri, râu ria ra rậm rạp”. Chín tiếng đó đều là âm “rờ”. Người đối lại cũng phải – “Rờ râu râu rụng, răng rứa rõ ra ri!”
Đầu-Trái-Bưởi, Quang, Kỳ đều cười khúc khích, không dám cười phá lên. Kỳ nói tiếp:
- Câu ni cũng vui – Kỳ nói chậm từng tiếng – “Cớ sự vì sao mà cứ sợ. Dời chưng (chân) nỏ được hãy dừng chơi”.
- Hì hì….Quang cưới – đúng là lắc léo.
Kỳ nói vẻ hứng thú:
- Còn lối đối câu vừa chữ vừa nôm, như: “Không vô, trong Nội, nhớ hoài”. Thì đối lại “Đi đến, cửa quan, sợ cụ”. Rõ là, một tiếng Nôm đệm một tiếng chữ thành từng cặp một.
Đầu-Trái-Bưởi thở dài não ruột:
- Tui…tui nỏ biết chữ! Nhiều lúc các cậu nói chuyện với nhau pha đôi ba câu chữ tui nghe như vịt nghe sấm!
Tất cả im lặng, nén sự cám cảnh về những lời Đầu-Trái-Bưởi nói. Côn vẫn nằm nghe, tay ôm chặt em để em được ngon giấc ngủ. Côn an ủi Đầu-Trái-Bưởi:
- Chơi với bạn có lúc đã quên để tâm về bạn còn đang thua thiệt hơn mình mà mình cứ nhâng nhâng tuy không cố ý thì cũng là vô tâm. Bọn tui có lỗi, đã không phải với anh Nông.
- Không! Không! Các cậu rất tốt với tui. Không được cậu Côn cho tui làm thân thì đời mô tui được làm quen với các cậu, được ăn chung một mâm, nằm ngủ chung một giường như ri. Tui là đứa không mẹ không cha! Là con nhà làm thuê vác mướn mà!
- Anh…Nông ơi! Tiếng Kỳ gọi nho nhỏ - Bọn tui mến anh nhiều lắm. Anh mà được học như bọn tui thì thông minh nỏ kém chi ai.
- Có rứa thiệt anh Nông ạ - Quang nói – Nói đâu xa ngay tui, bạn Xển Văn, đều là con nhà dân dã, được thầy cử Sắc dạy cho đều học được cả đó. Đầu-Trái-Bưởi nằm im, mặc cho nước mắt chảy xuống cánh tay gối đầu. Quang, Kỳ, Tuấn không ai nói với ai, mỗi người trở mình trằn trọc một lúc rồi mang vào giấc ngủ những băn khoăn, những ước mơ giản dị thơ ngây….
Côn nằm ôm em trong vòng tay, ủ bàn chân bên cạnh con mèo, nghe tiếng thở đều đều của các bạn hòa tấu một điệu ru ấm áp xua tan những băng giá của đêm trường
***
Ba mươi Tết!
Tờ mờ sáng. Các bà bên xóm đã sang thắp hương cho bà cử Sắc và an ủi anh em Côn. Các gia đình có con học với thầy cử Sắc đều cho người nhà đem lễ đến cúng bà cử Sắc và các bánh trái biếu anh em Côn ăn ba bữa Tết. Bên nhà Tôn Thất Tuấn, Lê Thị Hạnh, Diệp Văn Kỳ, Công Tôn Nữ Huệ Minh đều cho người đến mời một lần nữa anh em Côn sang ở ăn Tết.
Bà mẹ Xển Văn, bà mẹ Quang đến ở lại khá lâu với anh em Côn. Hai bà quét dọn từ trong nhà ra ngõ sạch sẽ, phong quang. Hót hết tro cũ trong bếp đổ đi. Xếp sẵn củi, đặt sẵn nồi nước lên bếp, hai bà dặn Côn sáng mùng một Tết nhóm lửa lên để cầu may cả năm. Kiêng để bếp lạnh tro tàn ngày năm mới. Hai bà vừa dọn dẹp vừa lau nước mắt. Bà Xển Văn đang ăn miếng trầu nhạt vôi, hỏi Côn:
- Ông bình vôi của nhà ta treo ở mô, hả cậu?
- Dạ thưa bác, đã đưa về mộ để mẹ cháu có vôi ăn trầu ạ.
- Ờ quên khuấy mất. Xin vong linh bà cử xá quở! Bữa đó bọn tui đã đưa ống đồng đựng trầu và ông bình vôi vô áo quan…Bà Xển Văn lại nói với bà Quang:
- Tui thường lui tới đây, lúc bà cử còn sống, bà nói đôi ba câu chữ, bà giảng giải rành mạch từng chữ đâu ra đó, nghe sướng cả cái bụng, “mát cứ như vừa mới rữa mặt” vậy – Tội nghiệp – Bà Quang ta thán - Người hiền, người nhân đức thì trời lại bắt về chầu trời sớm. Những bọn đầu trâu mặt ngựa, hoặc mặt người dạ thú thì cứ sống nhăn răng nanh ở cái thế gian ni mãi.
- Đúng rứa đó – Bà Xển Văn nói – Tui nhớ mang máng có lần bà cử nói một câu chữ…Hoàng…hoàng…à…à…Hoàng thiên bất…bất…lại quên mất rồi – Bà gọi khẽ - Cậu Côn ạ, bà cử thường nói hoàng thiên bất…bất chi hả cậu?
Côn bế em đến bên cạnh bà nói:
- Có lẽ mẹ cháu nói câu: “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”, đúng chăng thưa bác?
- Ờ, ờ…phải, phải! – Bà Xển Văn nói rối rít.
- Cậu giảng giải cho, cậu! Bầy tui nỏ có chữ nên đầu óc tối như đêm – Bà Quang than thở.
- Dạ thưa hai bác cháu mới hiểu được cái mức càn cạn thôi. Nghĩa câu ấy là: Trời không phụ những người có lòng tốt ạ.
Bà Quang thở dài, giọng buồn thiu:
- Trời…không…phụ…những…người…có…lòng…tốt. Nghe hay, hay lắm. Nhưng… nhưng người ăn ở tốt với chồng con, láng giềng, với mọi người như bà cử Sắc đây…lẽ mô trời không biết? Hay là trời đi vắng? Chẳng lẽ trời ngủ quên à?
Bà Xển Văn dịu giọng hơn:
- Để bà cử Sắc thác trẻ ri là oan lắm, ông tr…ời…t…eệ thiệt! Nói đi là vậy. Nghĩ lại thì thấy ông trời chưa đến nỗi phụ hết cả. Bà cử lúc còn sống ăn ở tốt với mọi người nên trời xui đất khiến cho chúng mình, mọi người đều đền ơn trả nghĩa với người thân thích của bà, thương nhớ bà không nguôi được.
Hai bà thành kính dâng những nén hương lên trước bài vị bà cử Sắc khấn khứa, cúi đầu vái lễ.
Côn tay bế em nghiên người cúi xuống tạ lễ hai bà mẹ thành kính đứng trước bàn thờ mẹ!
Hai bà đi ra khuất sau hàng dâm bụt. Bé Nhuận lại gào khóc, đòi bú. Tiếng pháo, khắp các phía nổ dậy lên. Tiếng pháo tiếng em khóc khát sữa, nhớ mẹ trộn lẫn thành thứ âm thanh chói nhức xâu xỉa vào khắp người Côn. Côn chẳng còn phân rõ ru em hay đang khóc với em! Côn không ước ao gì hơn lúc này là em chơi. Cha về ngay được lúc này là…là tiên ông giáng thế.
Bé Nhuận vẫn khóc, khóc càng to. Côn ru em hết cả chuyện, hết cả hơi! Cổ khản dần, tiếng ru ứng khẩu nhòe vào tiếng khóc:
…À…à…ơi! Em…ngủ…cho…ngoan…
M…ẹ…ta…đã…xuống….suối….vàng…à…ơi…
Ngủ…rồi…em…dậy…em…chơi…
Anh….ru…em…ngủ…những…lời….mẹ…ru…
Huệ Minh, Hạnh trên tay bưng gói quà Tết đứng khựng lại bên bờ dâm bụt. Tiếng ru em của Côn nhức nhối tận tim non! Trời rây mưa. Bụi mưa xuân lấm tấm trên mái nhà. Ngọn đèn và khói hương trong bàn thờ bà cử Sắc mờ mờ run rẩy…
Hai cô bạn của Côn lau ráo lệ, đi vào. Côn bồi hồi nhìn thấy bạn đến với mình giữa lúc mọi nhà lên nêu, sửa soạn làm lễ đón tổ tiên! Côn gọi bé Nhuận rối rít mà em thì chưa biết gì:
- Em! Em nín đi…đừng khóc nữa…Mệ Huệ Minh, cô Hạnh đến với em…đến với em đây…thích không! – Nói với bạn vẻ băn khoăn – Mệ…cô Hạnh…lo…lo lắng đến anh em tôi…giảm mất cả vui Tết…của mệ, của chị…
Hai cô lắc đầu khoát tay, đến thẳng bàn thờ bà cử Sắc. Huệ Minh đặt gói quà Tết bọc giấy màu cánh sen lên bàn thờ, một cái bọc khác để ở án thư. Hạnh thắp ba nén hương. Huệ Minh cùng Hạnh xá ba xá lễ. Hạnh quay ra bế bé Nhuận chạy ra ngõ dỗ cho nó chơi. Huệ Minh hai tay bưng cái bọc trên án thư đặt vào tay Côn:
- Đức Hoàng phi Thành Thái giao cho tui trao món quà Tết ni tận tay cậu.
Côn đỡ lấy cái bọc trên tay Huệ Minh bỗng sựng lại ngỡ ngàng, nói gần như lạc giọng:
- Đức…hoàng phi…Thành Thái! Mệ…ơi! Anh em tôi mồ côi mẹ, con một ông giám sinh nghèo, dạy học thêm ở góc đường ni mà Hoàng phi Thành Thái cho quà Tết! Tôi lo sợ quá. Quà của Hoàng phi Thành Thái lớn quá mệ Huệ Minh ạ. Anh em tôi sao được nhận quà Tết quý này!
- Cậu Côn ạ. Thầy của chúng ta, tuy không giữ được một chức vị chi ở trong các bộ. Nhưng danh tiếng đức độ của thầy rất nhiều người biết, do quan Thượng thư Đào Tấn thường nói trong các buổi đợi chầu. Cụ Thượng Cao cũng khen thầy ở những lần trò chuyện với các quan đầu triều, ở một số vương phủ cụ tới thăm viếng. Hoàng phi còn được nghe quan thái giám kể về chuyện cậu cho đại tự ở gác Tứ Phương Vô Sự…
Côn bối rối gãi đầu:
- Rầy rà mệ nhể!
- Tiếng lành đồn xa, các cụ ta thường nói mà cậu!
- Đức hoàng phi biết được anh em tôi lâm vào cảnh ngộ này mà cho quà Tết?
- Tui dự lễ Tất niên trong Nội, chúc Tết hoàng phi và hoàng tử Vĩnh San. Tôi kể đến cảnh ngộ bé Nhuận mẹ chết cậu phải bế em đi bú nhờ, trong lúc cha đi coi thi ngoài Thanh Hóa chưa về!
Côn cắn môi, khép lại tà áo:
- Đức hoàng phi hảo tâm vầy…các bà, các bác, các bạn…tốt với tôi!...Tôi biết lấy gì đền đáp…Mà…sao một bọc to vậy mệ?
- Hai bộ quần áo mới. Một gói kia là đồ cúng bà. Hoàng phi tự tay gói, trao cho tui đưa tới đây.
Hai mắt Côn rưng rưng và hơi quay đi giấu nỗi ưu phiền:
- Mệ thưa giùm tôi với đức Hoàng phi Thành Thái lời kính tạ của tôi. Tôi thấm thía lời mẹ tôi thường dạy: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Vì vậy tôi xin nhận phần lộc của Hoàng phi gửi cúng mẹ tôi. Phần lộc Hoàng phi gửi cho anh em tôi…Tôi lo lắm!
Huệ Minh lắc lắc đầu:
- Cậu Côn! – Côn quay mặt lại – Tui hiểu lòng cậu. Hiểu mới nói với cậu, đây là tấm lòng của một bà mẹ đang nuôi con thơ gửi đến cho người con hiếu thảo, can đảm vừa bị mất mẹ. Cậu đừng nhìn vào danh tước bà hoàng, bà chúa. Thầy có lần giảng cho chúng mình: “Kẻ từ chối sự giúp đỡ chân thành của người khác thì kẻ đó sẽ lảng tránh khi thấy người khác gặp hoạn nạn”
Côn đỡ lấy gói quà Tết của Hoàng phi Thành Thái trên tay Công Tôn Nữ Huệ Minh.
Hạnh bế em từ ngoài chạy vào:
- Các cậu Tuấn, Kỳ, Quang, và cả Đầu-Trái-Bưởi nữa.
- Ô ô! Tuyệt lăm! Huệ Minh rối rít.
Côn đặt gói quà lên án thư chạy vội ra cửa với Huệ Minh, Lê Thị Hạnh…
Tuấn đi trước đã vào đầu ngõ, tay cầm cành mai vàng. Kỳ ôm quả phật thủ và mấy trái cây khác nữa. Quang xách một cái vịm đầy thức ăn mấy thứ đùm đùm gói gói. Đi sau cùng là Đầu-Trái-Bưởi vác một cây nêu.
Tiếng oang oang của Đầu-Trái-Bưởi:
- Mời cậu Côn ra chỉ chỗ chôn cây nêu nghe. Đến giờ lên nêu rồi.
Thấy Huệ Minh và Hạnh đã đứng ở cửa, cả nhóm reo lên:
- U cha…cha! Mệ và chị Hạnh đã “tiền đáo, tiền tọa” bọn mình hóa ra “hậu lai” thì “hạ…hạ thổ” vậy.
- Các cậu nói kiểu chi rứa hề - Huệ Minh nói lại – Hạnh chỉ cười – Dè chừng…nghe. Sang giờ Thân của ngày tất niên rồi đó.
- Dạ dạ - Kỳ nói vui – rứa thì xin…Cung…chúc…Tân…niên…Công Tôn nữ Huệ Minh và Công nương Lê Thị hạnh trước giờ trừ tịch.
Hạnh giục:
- Các cậu bày mâm quả, lễ bà đi để còn về. Bọn này đã lễ bà rồi.
Đầu-Trái-Bưởi đã chôn nêu xong. Mâm quả, cành mai vàng được bày trên bàn thờ bà cử Sắc. Bốn cậu thiếu niên đứng thành chữ nhất trước bàn thờ cúng vái. Họ đứng lặng trước bàn thờ khá lâu. Tuy không nói ra nhưng họ đồng một cảm nghĩ: Sau khoảng khắc này, trong cái nhà nổi tiếng nho gia này chỉ còn lại hai con tim bé bỏng bên bàn thờ mẹ!
Côn vẫn giữ điềm tĩnh trên khuôn mặt mình. Các bạn bịn rịn với Côn! Côn đón em trên tay Hạnh trao lại! Các bạn nhỏ xoa đầu bé Nhuận, lưu luyến, dùng dằng từng cử chỉ, từng bước đi ra cửa! Cố nén nước mắt! Giữ cho Côn một bình yên ngày Tết.
- Qua ngày mồng một, bọn tui đến nghe cậu – Huệ Minh nghẹ ngào. Và các bạn không dám nói thêm gì nữa. Đầu-Trái-Bưởi vừa đi vừa ngoái lại – Tui…tui sẽ đến đón giao thừa với cậu. Tui cũng mồ…côi…mà…cậu!...
Côn ẵm em sát vào ngực mình nhìn theo các bạn ra về dưới làn bụi mưa rây. Một màu lam nhạt bao phủ kinh thành. Tiếng pháo rộ lên: Trời đất chao đưa. Tiếng pháo phá vỡ bầu không khí ảm đạm mùa đông cuối cùng của thế kỷ mười chín.
Giữa âm thanh nổ bùng, từ tâm hồn Côn vang lên lời cha giảng sách: Đừng đợi đến tuổi tráng niên mà muộn, hãy gánh lên vai tất cả từ tuổi hoa niên!
PHẦN 21
Mưa xuân dầm dề. Cả kinh thành ánh lên màu thiếc. Những đàn quạ như đám mây đen bay ngang trời kêu quàng quạc!
Về đến cửa Đông Ba, Nguyễn Sinh Sắc nghe tin vợ đã chết! Ông sập ô, chống xuống đất, đứng gục đầu bên đường mưa! Nguyễn Sinh Khiêm một tay ôm khăn gói, một tay bưng mặt vừa khóc vừa chạy về nhà.
Hai người hàng xóm hai bên dìu ông đi chầm chậm. Từ trong cổ họng nóng như hun ông muốn bật lên những tiếng gào thét. Ông nuốt! Nuốt! Nuốt! Càng nuốt cổ họng càng nghẹn. Mắt cũng nghẹn. Càng nuốt cổ càng nóng! Toàn thân ông như ninh nhừ.
Được người dìu về đến nhà, ông đứng gữa sân như người chết đứng. Ông vẫn vịn vào cái ô làm cọc tựa. cậu Côn chạy ùa hai tay ôm ngang người cha:
- Cha…aa!...Cha…ơi! Mẹ…mẹ…chết…rồi!
Ông thả ô. Cái ô đen thả dài ra sân lõa xõa như con chim bay bị đạn rơi xuống. Ông ôm lấy con – đứa con bé bỏng đã phải gánh vác cả một gia đình sụp đổ lúc cha vắng nhà!
- Con…ôi! Cha….cha đã lỗi hẹn với mẹ con! Cha….chịu ơn con lắm!
Ông cầm tay con bước vào nhà, gục đầu xuống bàn thờ vợ! Cả bàn thờ rung lên. Ngọn đèn lay lắt. Khói hương vật vờ.
Nguyễn Sinh Khiêm ngồi dưới chân giường thờ mẹ, gục đầu như một con chim non rũ cánh! Bé Nhuận ốm, xương bọc da nằm thở thoi thóp trong tấm mền cũ
Học trò và bà con quanh xóm nghe tin cha con thầy cử Sắc về, lần lượt đến chia buồn. Ông phải nén nỗi đau mất mát khủng khiếp, nhấc mình ra khỏi bàn thờ nhìn mọi người đang ở bên ông. Ông như một cây khô, một con sông cạn, một người không hồn! Hai tay ông xá lễ, mắt nặng ơn nghĩa cao cả mọi người. Lời lẽ lúc này ông cảm thấy vô nghĩa.
Trời chiều. Dáng núi xanh xa chống mái trời chì trĩu nặng. Dòng sông Hương gấp gấp như từng khúc ruột quặn đau quằn quại!
Ông Nguyễn Sinh Sắc tay vịn lấy vai người con trai thứ bước từng bước thang lên dốc bãi tha ma Nam Giao. Khiêm cùng bước theo cha. Gió là là nghĩa địa. Ngọn cỏ rùng mình lướt lả ngang chân. Côn thấy cha bước liêu xiêu không vững, cầm lấy tay cha dắt đến bên mộ:
- Thưa cha, mẹ con nằm đây!
Ông cử Sắc ngã khuỵu xuống, hai tay dang rộng ôm lấy ngôi mộ vợ! Nguyễn Sinh Khiêm ngồi sà xuống bên cha! Mười ngón tay ông bấu vào đất như định bưng cả ngôi mộ dậy! Toàn thân ông rung lên! Giữa không gian lạnh ngắt bật lên tiếng kêu to: Lo…an!.... mình ơi! Bà…ơi! Em…Loan ơi! Anh…. về…. thì…. em…. em… đã…. đi…. đến…. nơi…. thiên….cổ! Ngôi mộ vẫn lầm lỳ bất động. Côn đau đớn thấy cha gục đầu xuống mộ mẹ, khăn xô tung lòa xòa trên mồ! Một cơn gió thốc, tóc ông rung rinh bên lớp cỏ óng vàng
Côn thắp hương cắm lên mộ mẹ và mấy ngôi mộ kề bên. Khói hương bài vấn vít quanh ông và ấm áp mộ phần. Côn nhặt khăn lên và đỡ cha dậy.
- Côn. Con đưa cái đĩa đèn ở đầu mồ lại đây cho cha. Mẹ các con sinh thời “nghiện” mùi hương trầm còn hơn nghiện trầu.
Ông lấy ra một gói hương trầm để vào đĩa, nhen lửa, khói hương đưa hình gương sen và tỏa mỏng khắp ngôi mộ bà Hoàng Thị Loan.
Ông nói giọng ngân rung trầm lắng:
- Các con đứng bên cha cùng hành lễ.
Khiêm và Côn đứng hai bên người cha, mặt hướng vào ngôi mộ mẹ. Làn khói hương bay là là như làn mây mỏng xốp phủ lên mồ bà cử Sắc. Ba cha con ông cử Sắc cúi đầu thành kính. Không có tiếng khóc. Từng giọt….từng giọt lệ rơi xuống mộ. Khúc nhạc trầm trầm cất lên từ những hàng cây xa xa vọng vào quanh ngôi mộ, âm dương giao hòa, đất trời một cõi u minh!
Ông nhấc đầu lên, mặt tràn nước mắt, nói với hai con:
- Các con lui ra ngoài để cha nói với mẹ các con một vài lời.
Lúc hai con đã rời khỏi mộ, ông cử Sắc ngồi xuống, hai bàn tay úp lên ngôi mộ bồng bềnh làn hương trầm. Tiếng ông lắng vào từng thớ đất:
- Loan ơi! Anh tin, tuy phần xác xa lìa, phần hồn không mất. Anh nói với em những lời này vì giờ khắc cuối cùng chúng ta không được nhìn thấy nhau, nói với nhau lời tiễn biệt! Âu cũng là “ngô thụ mệnh ư thiên”. Em về cõi vĩnh hằng, anh ở lại một mình với bao gánh nặng! Nỗi đau mất em nặng hơn núi, khó mà nhấc khỏi tâm can anh, còn gánh nặng nghĩa vụ làm người đối với đời, làm con với mẹ già ở quê nhà, làm cha với các con, nặng mấy cũng chẳng thấm vào đâu! – Ông ngồi lặng hồi lâu, mắt không rời ngọn khói hương trầm – Loan ạ. Tình nghĩa hai ta, ít thấy ở đời. Cha mẹ đón anh về lúc mới lên mười tuổi, em mới lên năm, được cha mẹ xếp đặt thành anh em chung một bóng song thân. Bảy năm anh làm anh, lại làm bạn sách đèn. Rồi cha mẹ xe duyên cầm sắt cho chúng ta. Suốt gần hai mươi năm trong đạo làm chồng, đã có bốn mặt con, em chưa một lần để anh phiền muộn, anh cũng chưa bao giờ vẩy gợn trong lòng em phải nghĩ ngợi về đạo tào khang. Giờ em ra đi giữa lúc con còn trứng nước, con thơ ngây, mẹ già như chuối chín cây ở tận quê nhà! Hội thi đã lại đến sát lưng, công em nuôi chồng đèn sách bấy lâu lẽ nào anh lại bỏ? Nghĩa mẹ nuôi anh từ bé, dựng cử nghiệp cho anh: Bán ruộng cho anh đi học, đi thi. Mẹ chịu phận sống vắng con, cho em theo anh nâng khăn sửa túi, mong ngày bảng vàng đến với anh. Nào ngờ! Nào ngờ em vĩnh viễn ở lại chốn này! Anh biết thưa sao với mẹ đây? Công chưa thành, danh chưa có, vợ chết, dắt con thơ về cho mẹ vợ! Anh…anh…- ông nói như để rơi từng tiếng theo giọt lệ - ký…phụ…tâm…tư…tư quốc….tư gia…tự…đại….đạo…ô!...
Thấy cha đứng dậy, Khiêm, Côn chạy đến bên cha. Ngôi mộ phập phồng hương khói trước ba trái tim nhức nhối đập dồn….
***
Ông cử Sắc đi tạ ơn chưa hết được những người hảo tâm trong công việc chôn cất bà cử và đùm bọc hai con ông gặp cảnh bơ vơ khi tối lửa tắt đèn thì một nỗi đau đớn nữa lại đến với cha con ông: bé Nguyễn Sinh Nhuận đã chết!
Giữa đêm khuya, ông lục những vuông vải do bà cử dệt còn dỡ dang để liệm con trai út.
Côn nghẹn ngào:
- Thưa cha. Mặc cho em bộ áo mới của Hoàng phi Thành Thái cho hôm Tết, cha ạ.
- Cha con ta không được quên cái ơn này. Lần ơn này to lắm. Ai đã đến với cha con ta lúc “kẹp chân há miệng” này thì phải nhớ đời. Đời xưa Hàn Tín lúc còn hàn vi đi câu cá, đói bụng được một bà lão giặt vải bên sông đem cho bát cơm. Khi đã làm đến Tể tướng, Hàn Tín còn nhớ nghĩa cũ, đem vàng đến tạ ơn. “Bát cơm Phiến Mẫu tạ ơn ngàn vàng”. Cha con ta không chỉ một người giúp đỡ!
Liệm xong con, ông ngồi thừ chưa nghĩ ra gỗ để đóng áo quan? Côn gợi ý: - Cha ạ. Có thể tháo ván cánh cửa đóng áo cho em vậy.
- Ừ. Khiêm cũng ưng ý – Phải đó cha ạ.
Ông cử Sắc lưỡng lự:
- Cưa, đục không có. Cha cũng vụng công việc này nữa.
- Thưa cha – Côn lễ phép – chú phó Tràng hiện đi Nam Kỳ làm từ đường cho họ bà Từ Dũ, chú còn gửi lại nhà ta một số đồ nghề của chú, cha ạ. Mà….thưa cha, con, anh cả đều đục đẽo tàm tạm, cha ạ.
Ba cha con ông cử Sắc hí hoáy trong đêm, tháo cánh cửa, đóng một cái quan tài nhỏ, gần sáng đêm mới xong.
Ông cử lấy chai rượu, rót đầy chén tống. Ông uống hai ngụm, còn lại ông tẩm hai bàn tay. Ông bế bé Nhuận như bế lúc còn ngủ đặt vào nôi. Ông để rất êm. Mắt ông ngập lệ, gọi:
- Các con…nhìn mặt…em…để cha đậy n..ắp!
Côn nhìn mặt em lần cuối, đi ra sân xem trời:
- Cha ơi, trời sáng rồi! Sửa soạn để lúc có súng lệnh mở cửa thành thì đưa em con đi, cha ạ.
Thầy Nguyễn Sinh Sắc vác quan tài lên vai bước nặng nề. Khiêm vác thuổng, cầm bó nhang đang cháy nghi ngút đi lên trước cha. Côn vác cuốc đi sau. Côn cúi xuống dặn con mèo ngồi buồn bã bên cửa: “Mèo ở nhà ngoan nhá. Tao đưa em Nhuận đến với mẹ tao rồi tao về…”
Sương mù! Gió se mây mỗi lúc một ùn ùn đến. Ba cha con thầy Sắc đắp những lát đất cuối cùng lên mộ. Ngôi mộ bé Nguyễn Sinh Nhuận nằm kề mộ mẹ. Ông Sắc vẫn không quên đốt hương trầm tưởng niệm người vợ hiền. Khói hương tỏa ấm trên hai ngôi mộ. Ông nói thầm thầm:
- Mẹ con em yên nghỉ. Anh đưa hai con trở về quê trăm sự lại nhờ mẹ của chúng ta. Anh không thể phụ công em nuôi anh đèn sách. Khoa thi Hội này anh vẫn ứng thi.
Khiêm và Côn cùng cầm chặt hai bàn tay cha. Tiếng Khiêm buồn buồn:
- Cha ơi! Trời mưa càng nặng hột. Gió lạnh lắm.
Côn nói tiếp lời anh:
- Mời cha về kẻo rét lắm ạ.
Thầy Nguyễn Sinh Sắc lê từng bước giữa hai con ngoảnh nhìn mộ vợ. Ông nói giữa mênh mông mưa:
-….Gia…bần….vô….hiền…thê, quốc…loạn….vô….lương….tướng….
Tiếng sấm trái mùa ran trời! Côn ngẩng lên mặt gặp tia chớp! Vầng trán Côn như đụng phải bầu trời u ám!....
Ngõ Hạnh 15 – 3 – 1984
Ngõ Văn 15 – 3 - 1985
Nhận xét
Đăng nhận xét